Bắc Giang nâng cao chất lượng các sản phẩm OCOP
Hiện nay ngành nông nghiệp của tỉnh Bắc Giang đã cơ bản phát triển ổn định, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tiêu biểu như vùng cây ăn quả trên 51 nghìn ha, trong đó vùng vải thiều tập trung 28 nghìn ha; vùng cây có múi gần 11 nghìn ha, vùng rau an toàn gần 12 nghìn ha; đàn lợn gần 1 triệu con, đàn gia cầm trên 20 triệu con; vùng sản xuất gỗ nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến 80 nghìn ha, sản lượng khai thác bình quân gần 1 triệu m3 gỗ/năm.
Bên cạnh đó, Bắc Giang có 27 làng nghề đã được công nhận, có 52 sản phẩm chủ lực, đặc trưng, tiềm năng và 45 dân tộc chung sống với nhiều nét văn hóa đặc trưng và nhiều tiềm năng về phát triển du lịch. Bắc Giang cũng là nơi có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời với hơn 2.200 di tích, trong đó có 746 di tích được xếp hạng. Nhiều công trình văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, nổi tiếng như: Di tích Quốc gia đặc biệt chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Yên Dũng; Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế; Di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang... Đây là tiền đề và lợi thế lớn của tỉnh trong việc lựa chọn sản phẩm tham gia đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP.
Để khai thác những lợi sẵn có, Bắc Giang đã và đang từng bước mở rộng, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung nhằm kiểm soát vùng nguyên liệu tại chỗ, tạo nền tảng để nâng cao giá trị, thương hiệu, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhiều địa phương trong tỉnh đã xây dựng được chỉ dẫn địa lý cho nông sản đặc trưng chính là lợi thế lớn để Bắc Giang có thêm những sản phẩm OCOP chất lượng và có thể phát triển thành sản phẩm OCOP quốc gia.
![]() |
| Vải thiều Lục Ngạn là sản phẩm OCOP nổi tiếng của tỉnh Bắc Giang (Ảnh: V.H) |
Sau hơn 4 năm thực hiện, chương trình OCOP tỉnh Bắc Giang đã mang lại kết quả tích cực, trở thành một phong trào sản xuất có sức lan tỏa trong khu vực nông thôn, tạo ra sức bật mới, khơi dậy tiềm năng sản xuất nông nghiệp, tác động đến phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Đến nay, toàn tỉnh có 180 sản phẩm được công nhận là sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên; trong đó, có 42 sản phẩm đạt 4 sao, 138 sản phẩm đạt 3 sao; 84,4% sản phẩm thuộc nhóm thực phẩm, 12,8% thuộc nhóm đồ uống, 2,2% thuộc nhóm thảo dược và 0,6% thuộc nhóm dịch vụ du lịch cộng đồng. Tỉnh Bắc Giang phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 350 sản phẩm OCOP, trong đó có 4 sản phẩm đạt 5 sao.
Giai đoạn 2018-2022, Bắc Giang đã hỗ trợ trên 100 lượt hợp tác xã, doanh nghiệp với khoảng 350 lượt sản phẩm OCOP và sản phẩm tiêu biểu đặc trưng tham gia các hội chợ, triển lãm, diễn đàn kết nối cung cầu; hỗ trợ các chủ thể sản xuất xây dựng các điểm trưng bày sản phẩm và bán hàng trên các sàn thương mại điện tử (trên 80% sản phẩm OCOP giao dịch trên các sàn sàn thương mại điện tử).
Tuy nhiên, theo ông Lê Bá Thành, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, quá trình thực hiện Chương trình OCOP tỉnh Bắc Giang gặp một số khó khăn do nguồn lực triển khai chương trình chủ yếu là lồng ghép. Số lượng sản phẩm đăng ký tham gia chương trình hàng năm nhiều nhưng thực tế sản phẩm đủ điều kiện đánh giá, phân hạng thấp. Sản phẩm OCOP chủ yếu vẫn là sản phẩm sơ chế hoặc chế biến đơn giản, giá trị gia tăng thấp. Cùng đó, quy mô sản xuất nhỏ, phục vụ thị trường hẹp, khó đáp ứng được các đơn hàng lớn và liên tục, khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế. Chưa có quy chế quản lý, kiểm tra, giám sát các sản phẩm sau khi đã được cấp chứng nhận và chế tài xử lý khi sản phẩm không duy trì được các tiêu chí của chương trình. Công tác tuyên truyền chưa đa dạng, nhiều chủ thể sản phẩm OCOP tiềm năng chưa hiểu rõ và nhận thức đầy đủ về lợi ích khi tham gia OCOP. Hay công tác rà soát phát triển sản phẩm mới tập trung vào hoàn thiện các sản phẩm đã có, chưa hoặc ít quan tâm phát triển sản phẩm mới gắn với vùng nguyên liệu, đặc biệt là các làng nghề truyền thống...
Để tháo gỡ khó khăn trong phát triển các sản phẩm OCOP của tỉnh Bắc Giang, thời gian tới các cơ quan quản lý cần tăng cường kết nối giữa các chủ thể OCOP với các đơn vị phân phối, tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước. Hỗ trợ các chủ thể OCOP đầu tư máy móc, thiết bị chế biến sâu, ứng dụng công nghệ mới. Đồng thời, hỗ trợ kinh phí cấp các chứng nhận về quy trình sản xuất để chủ thể tự tin đưa các sản phẩm đi xa hơn và xuất khẩu.
Hiện nay, các mặt hàng của Bắc Giang chủ yếu ở dạng tươi sống, chưa có nhiều loại được đầu tư chế biến sâu. Điều này dẫn đến sự đơn điệu và làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường, đối tượng khách hàng cũng bị bó hẹp... Chính vì vậy, các chủ thể cần phối hợp với cơ quan quản lý duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP; quan tâm phát triển sản phẩm mới gắn với vùng nguyên liệu mang nhiều giá trị văn hóa, giá trị cộng đồng, đặc biệt là các làng nghề truyền thống.
Sức sống của chương trình OCOP là từ cộng đồng. Để thực hiện điều này, việc tuyên truyền đóng vai trò quyết định. Sau khi được tuyên truyền và hiểu về OCOP, cộng đồng khởi đầu chu trình bằng việc đăng ký tham gia chương trình OCOP. Từ đó, thúc đẩy các doanh nghiệp đăng ký và phát triển các thương hiệu nhãn hiệu cho riêng mình, đây chính là động lực tạo mối liên kết “kéo” đối với sản phẩm của địa phương. Cùng với đó, mỗi chủ thể OCOP cần tự có trách nhiệm với sản phẩm của mình từ mẫu mã, bao bì, chất lượng và an toàn vệ sinh sản phẩm bởi mỗi sản phẩm OCOP được công nhận đã góp phần gia tăng giá trị không chỉ về kinh tế mà cả về giá trị văn hóa cho địa phương.
Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất đi đôi với việc tuân thủ các quy trình về quản lý chất lượng; đẩy mạnh quảng bá, tiêu thụ sản phẩm thông qua việc tổ chức các hội chợ, đặc biệt chú trọng đến việc tiêu thụ qua kênh thương mại điện tử. Xây dựng cơ chế, chính sách huy động nguồn lực hỗ trợ phát triển sản phẩm, nâng hạng sao sản phẩm OCOP và phát triển sản phẩm đạt tiêu chuẩn 5 sao cấp quốc gia.


