10/03/2026
x
+
aa
-

Bức tranh văn hoá đa sắc màu của người Sán Chay

(ĐCSVN) – Bao đời nay, nền văn hoá của dân tộc Sán Chay đã hoà cùng dòng chảy văn hoá Việt. Theo thời gian, bản sắc văn hoá người Sán Chay đã được các thế hệ tiếp nối gìn giữ, phát huy, cùng góp phần làm nên sự đa dạng trong bức tranh văn hoá của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.​

Người Sán Chay có các tên gọi khác như: Hờn Bán, Chùng, Trại..., nhóm địa phương: Cao Lan và Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai). Theo kết quả điều tra dân số năm 2019, dân tộc Sán Chay có 201.398 người, sinh sống tập trung tại tỉnh Thái Nguyên với 39.472 người, tỉnh Quảng Ninh 16.346 người, tỉnh Phú Thọ 4.278 người và một số tỉnh thành khác trên cả nước.

Nền văn hoá Sán Chay lâu đời đậm đà bản sắc phản ánh qua hệ thống các lễ hội lâu đời, phong tục, tín ngưỡng, chuyện cổ tích, thơ ca. Đồng bào Sán Chay yêu thích hát ví, hát dân ca, hát Soóng cọ. Phổ biến hơn cả là sình ca, lối hát giao duyên nam nữ gồm 2 loại: Hát ở bản về ban đêm và hát trên đường đi hoặc ở chợ. Các điệu múa dân gian có điệu múa "Chim gâu", múa “Tắc xình” múa Trống, múa Đâm cá… Bên cạnh đó còn có ca đám cưới, hát ru. Trò chơi dân gian có đánh cầu lông, đánh quay là những trò chơi phổ biến của người Sán Chay. Trong ngày hội có nơi còn biểu diễn trò "trồng chuối", "vặn rau cải".

   Các thanh niên múa điệu cổ trong lễ cầu mùa của người Sán Chay, tỉnh Phú Thọ.

Tết âm lịch của người Sán Chay kéo dài từ 25 tháng Chạp đến hết rằm tháng Giêng âm lịch. Những ngày cuối năm, trước khi đi ngủ, chủ nhà có tục lệ thắp một nén hương thơm lên bàn thờ mời tổ tiên về nhà cùng ăn Tết.

Khoảng 28, 29 tháng Chạp, đồng bào có tục lệ dán giấy đỏ lên những nơi quan trọng như cổng ngõ, cửa ra vào, ban thờ tổ tiên hay các dụng cụ cuốc, cái xẻng, dao, cái cày, cái bừa, cối xay, cối giã gạo, cây cối quanh nhà, chuồng trại chăn nuôi... với ý nghĩa để các đồ vật này cũng được "nghỉ Tết" như con người. Bởi vậy mỗi ngôi nhà, ngôi làng nhuộm sắc đỏ rực rỡ trong những ngày Tết.

Trong đời sống tín ngưỡng, đồng bào thờ cúng tổ tiên trong nhà, ngoài ra còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ, thần nông, thần chăn nuôi... Phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng, Táo Quân. Các phong tục, tập quán lâu đời của đồng bào Sán Chay phản ánh qua nhiều lễ hội truyền thống, tiêu biểu là phong tục cầu mùa - một nghi lễ dân gian lưu truyền từ xa xưa, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, giàu tính nhân văn, thể hiện khát vọng chinh phục thiên nhiên của những người dân lao động.

Tại tỉnh Phú Thọ, đồng bào Sán Chay là một trong nhiều dân tộc anh em sinh sống tập trung tại các huyện Đoan Hùng, Yên Lập, Thanh Sơn. Đồng bào vẫn lưu giữ lễ cầu mùa với những nét độc đáo. Lễ cầu mùa phản ánh sinh động phong tục, tập quán, vẻ đẹp và bản sắc của người Sán Chay trên vùng miền đất nước. Để tiến hành Lễ, đồng bào chọn tổ chức vào mùa xuân, khi đất trời chuyển mình trong lộc non và nắng ấm, cùng những hy vọng về một vụ mùa bội thu, mưa gió thuận hoà.

  Lễ cầu mùa của người Sán Chay, tỉnh Phú Thọ.

Vào ngày tổ chức, người dân trong làng chuẩn bị các lễ vật như thịt lợn, gà, đèn nến và các lễ vật khác. Trong các đồ lễ không thể thiếu bộ tranh cổ đi kèm. Một bộ tranh cổ của các thầy cúng sử dụng trong Lễ cầu mùa gồm 28 tờ tranh, từ tranh Ngọc Hoàng, tranh chiếu mệnh..., mỗi bức tranh cổ mang những hình tượng khác nhau, phù hợp với hoàn cảnh lễ như: Tranh dùng trong lễ hiếu, tranh dùng trong lễ cúng cấp sắc, tranh dùng trong lễ cầu mùa.

Những đồ vật cần có khác là một thanh đao hay kiếm, tượng trưng những dụng cụ làm đất trồng trọt… Khi lễ vật đã chuẩn bị xong, trong không khí thành kính của dân làng, thay mặt cộng đồng, thày lễ đọc lời khấn từ một cuốn sách, chép lại lời khấn cổ xin trời đất, thần linh phù hộ cho bản làng yên vui, nam nữ khỏe mạnh, tài sắc, mọi sự như ý, vạn vật sinh sôi, lúa ngô tốt tươi, sắn khoai đầy đủ, thóc về đầy bồ, trâu bò đầy chuồng, đầu làng cuối làng luôn được bình yên. Mọi người trong bản làng luôn mạnh khỏe, cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Trong khi thày lễ làm Lễ, những người phụ lễ gõ trống đất liên tục gõ những nhịp đều nhỏ. Khi tiếng trống đất đánh dồn dập, thầy lễ sẽ xin âm dương, nếu được chấp thuận cũng là lúc trống dứt, kết thúc phần Lễ.

Phần hội được bắt đầu với các điệu nhảy Tắc xình điệu múa dành riêng cho lễ cầu mùa, do các nam nữ thanh niên Sán Chay tham gia biểu diễn. Hình thức diễn xướng dân gian này hấp dẫn nhất là phần thể hiện những bài hát giao duyên, các điệu múa cổ độc đáo như: "Chim gâu", “Xúc tép”, “Tắc xình” hay những điệu múa Trống, múa Đâm cá… 

Điệu múa cổ “Tắc xình” của người Sán Chay. Nghệ nhân La Như Ý thực hiện nghi lễ trong Lễ cầu mùa của người Sán Chay ở tỉnh Thái Nguyên.

Múa Tắc xình có các động tác múa mô phỏng những hoạt động trong lao động sản xuất nông nghiệp. Vũ điệu diễn ra dưới sự dẫn dắt, giữ nhịp của tiếng nhạc phát ra từ giàn nhạc cụ thô sơ, dân dã hấp dẫn người xem.

Theo nghệ nhân La Như Ý, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên: Múa Tắc xình có giá trị lịch sử, văn hóa lâu đời, gắn bó mật thiết với đời sống người Sán Chay, được các nghệ nhân lưu truyền bằng hình thức truyền miệng và truyền dạy trực tiếp, đến nay các động tác múa vẫn mang tính thống nhất, ít dị bản. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, điệu múa Tắc xình có chín điệu cơ bản gồm: Thăm đường, lập làng, bắt quyết, mài dao, phát nương dọn rẫy, tra mố, hái lượm, mừng mùa vụ và chim câu.

Âm nhạc trong điệu múa Tắc xình có tiết tấu đơn giản, nguyên sơ, không pha tạp các tiết tấu âm nhạc hiện đại. Chỉ với tiếng nhạc “tắc, xình” phát ra từ những nhạc cụ thô sơ từ tre, nứa... và những động tác múa như điệu đánh mài dao, phát nương, dọn rẫy, tra mố, hái lượm... Ngôn ngữ trong điệu múa Tắc xình đơn giản, dễ thực hành, người học dễ nhớ, có tính cộng đồng cao. Ẩn chứa trong vũ điệu của người Sán Chay là triết lý, tín ngưỡng, những sắc màu văn hoá tâm linh.

Điệu múa Tắc xình hội tụ đủ các yếu tố của trình thức biểu diễn dân gian, được cộng đồng người Sán Chay lưu truyền, bảo tồn qua nhiều thế hệ, đã trở thành một di sản phi vật thể đặc sắc cấp quốc gia của tỉnh Thái Nguyên.

Những đặc trưng văn hóa của người Sán Chay không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn có giá trị cung cấp cho các nhà nghiên cứu nhiều tư liệu khoa học giá trị, đồng thời góp phần cho sự đa dạng trong bức tranh văn hoá của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam./.

Bài, ảnh: N.Dương
Top