Cần thêm nhiều cố gắng để cân bằng tỷ số giới tính khi sinh
Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) được xác định bằng số bé trai trên 100 bé gái được sinh ra trong thời kỳ nghiên cứu, thường là 12 tháng trước thời điểm điều tra. Tỷ số SRB phản ánh cân bằng giới tính của số bé trai và bé gái khi được sinh ra. Thông thường tỷ số này là 104 - 106 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Bất kỳ sự thay đổi đáng kể này của SRB chệch khỏi mức sinh học bình thường đều phản ánh những can thiệp có chủ ý và sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự nhiên, đe dọa sự ổn định dân số của quốc gia và toàn cầu.
![]() |
| Tình trạng thiếu hụt số trẻ em gái liên quan tới quá trình hình thành và cấu trúc gia đình, đặc biệt là hệ thống hôn nhân trong tương lai |
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0h ngày 01/4/2019, SRB của Việt Nam có xu hướng tăng hơn so với mức sinh học tự nhiên từ năm 2006 đến nay, đưa ra bằng chứng về mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam. Trong đó, SRB năm 2019 giảm so với năm 2018 nhưng vẫn ở mức rất cao. Năm 2018, SRB là 114,8 bé trai/100 bé gái; năm 2019 là 111,5 bé trai/100 bé gái.
Hiện nay, tỷ số giới tính của 53 dân tộc thiểu số nước ta là 100,4 nam/100 nữ. Các dân tộc thiểu số có tỷ số giới tính cao như: Ơ Đu 124,1 nam/100 nữ; Ngái 114,7 nam/100 nữ; Bố Y 110,3 nam/100 nữ; Hoa 108,3 nam/100 nữ. Một số dân tộc thiểu số lại có tỷ số giới tính khá thấp như Xtiêng 92,4 nam/100 nữ; Mạ 94,1 nam/100 nữ; Brâu 94,4 nam/100 nữ; Mnông 94,9 nam/100 nữ.
Tỷ số giới tính chịu tác động bởi ba yếu tố là sinh, chết và di cư. Những nơi có sự lựa chọn giới tính khi sinh theo xu hướng ưa thích con trai trong bối cảnh giảm sinh, phong tục tập quán muốn có con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên thì sẽ làm tăng tỷ số giới tính khi sinh và làm tăng tỷ số giới tính. Tỷ số giới tính thường cao ở các nhóm tuổi trẻ và giảm dần khi nhóm tuổi tăng lên do mức tử vong của nam giới thường cao hơn nữ giới. Những nơi có nhiều nữ giới di cư đi nơi khác cũng sẽ làm tăng tỷ số giới tính và ngược lại.
Bên cạnh đó, việc dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế để lựa chọn giới tính thai nhi khi mang thai hoặc chẩn đoán giới tính thai nhi dẫn tới nạo phá thai vì lý do lựa chọn giới tính. Việc lựa chọn giới tính trước khi sinh phản ánh tình trạng bất bình đẳng giới sâu sắc. Các nghiên cứu của quốc tế và Việt Nam đã chỉ ra hệ lụy tới cấu trúc gia đình và các vấn đề xã hội trong tương lai của tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay.
Tình trạng thiếu hụt số trẻ em gái sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt phụ nữ ở tất cả các nhóm tuổi trong tương lai. Cấu trúc dân số trong những thập kỷ tới sẽ mang dấu ấn của việc lựa chọn giới tính hiện tại với quy mô dân số nam giới vượt trội trong một thời gian dài. Theo các nhà khoa học xã hội, tác động chính của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ liên quan tới quá trình hình thành và cấu trúc gia đình, đặc biệt là hệ thống hôn nhân. Nam giới trẻ tuổi sẽ bị dư thừa so với nữ giới do tỷ lệ nữ đang giảm dần trong cùng một thế hệ và kết quả là họ có thể đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi tìm kiếm bạn đời. Trì hoãn hôn nhân trong nam giới hoặc gia tăng tỷ lệ sống độc thân là những khả năng có thể xảy ra trong tương lai do tình trạng thiếu phụ nữ trong độ tuổi kết hôn. Điều này sẽ tác động ngược lại hệ thống gia đình trong tương lai.
Điều tra của Tổng cục Thống kê cũng đã chỉ ra SRB của khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn, tương ứng với 110,8 và 111,8 bé trai/100 bé gái. SRB giữa các vùng có sự chênh lệch đáng kể, cao nhất là ở Đồng bằng sông Hồng với 115,5 bé trai/100 bé gái; thấp nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long với 106,9 bé trai/100 bé gái). Sự khác biệt SRB giữa khu vực thành thị với nông thôn ở Đồng bằng sông Hồng cũng cao nhất nước. SRB của vùng trung du, miền núi phía Bắc năm 2009 là 108,5 bé trai/100 bé gái đã tăng lên 114,2 bé trai/100 bé gái năm 2019, tăng mạnh hơn mức tăng SRB của vùng Đồng bằng sông Hồng.
Lựa chọn giới tính trước khi sinh là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh. Do vậy, theo dõi các diễn biến của SRB là rất cần thiết nhằm đưa ra các can thiệp kịp thời. Đảng và Chính phủ đã rất quan tâm đến việc mất cân bằng giới tính khi sinh. Ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu, Khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng” và đặt ra mục tiêu: “đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên”, “đến năm 2030: tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống”.
Để đạt được những mục tiêu trong Nghị quyết số 21-NQ/TW, Tổng cục Thống kê khuyến nghị cần đưa công tác dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền để bảo đảm thống nhất nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của toàn xã hội trong việc đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên. Nâng cao nhận thức, thực hành về bình đẳng giới, đề cao giá trị của trẻ em gái, vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Xây dựng các chuẩn mực, giá trị xã hội phù hợp nhằm thực hiện hiệu quả bình đẳng giới, loại trừ dần nguyên nhân sâu xa của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi nhận thức, tạo dư luận xã hội phê phán các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Giáo dục nâng cao y đức cho y, bác sĩ siêu âm, nghiêm cấm lạm dụng khoa học - công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi nhằm tạo chuyển biến rõ nét ở những vùng có tỉ số giới tính khi sinh cao./.


