18/10/2026
x
+
aa
-

Chuyến xe buýt số 109 

Truyện ngắn: Mai Thị Trúc


Tuyến xe buýt 109 từ bến trung tâm chạy về vùng ven, ca đêm lúc nào cũng rộn ràng như cái chợ di động.

Mười giờ rưỡi đêm, phố xá dần im ắng dưới ánh đèn vàng. Người lên chuyến cuối này đa số tan làm về muộn: mấy cô phục vụ nhà hàng đứng và di chuyển suốt nên tan ca chân bước muốn hổng nổi, các chú thợ sơn quần áo lem luốc đủ màu, vài sinh viên làm thêm trở về gục đầu vô kính xe ngáy khò khò, và các dì bán hàng rong giỏ xách nhẹ hều sau một ngày mưu sinh.

Cầm trịch “tổ hợp lao động muộn” này là bác Bảy cầm lái, chị Lắm phụ xe. Bác Bảy ngót nghét sáu mươi, ai lên xe lề mề là bác hối "Lẹ lẹ cái chân, cản người lên sau kìa". Ai quen chuyến này đều biết bác có trí nhớ siêu đẳng. Khách quen bước lên, bác ghi nhớ họ xuống trạm nào. Tới đoạn đường tối không đèn, bác cố tình bò chậm lại, rọi pha sáng quắc cho mấy cô sinh viên nhỏ, các dì bán hàng rong... đi bộ vô hẻm an toàn rồi mới tăng ga.

Còn chị Lắm thì đúng kiểu “khẩu xà tâm Phật”, hay nhắc mọi người chuyện này chuyện kia: “Mấy chú thợ sơn né ra xíu, xém dính sơn vô áo con nít người ta rồi kìa". "Cô này bỏ bịch rác vô thùng rác giùm”. La thì la rôm rả, nhưng hễ thấy sinh viên nào gật gù suýt rớt điện thoại là chị đi qua, nâng cằm dậy, móc trong túi chai dầu gió xanh bỏ vô tay: “Xức vô trán cho tỉnh, coi chừng mất đồ”.

***

Chuyến xe đêm đó chạy chừng năm cây số thì trời đổ mưa. Mưa miền Nam lạ lắm, rào rào như trút nước xuống mặt đường nhựa, nồng mùi hơi đất bốc lên. Nước tạt qua khe kính, ngấm lạnh ngắt.

Tới khúc cua gần cầu Rạch Ráp, bác Bảy theo thói quen bò chậm lại, bật pha thiệt sáng. Nhờ vậy mà qua màn mưa mờ đục, bác thấy một chiếc xe máy giao hàng nằm chỏng gọng bên vệ đường. Thùng hàng vỡ toạc, đồ đạc văng đầy mặt đường loáng nước. Cạnh đó, một cậu thanh niên mặc áo mưa tiện lợi rách tươm đang co quắp ôm cái chân trái, máu hòa nước mưa, rên không thành tiếng.

“Kít...í...t!”.

Bác Bảy đạp phanh. Mấy người đang ngủ giật mình ngóc đầu dậy.

- Gì vậy ông Bảy? Cán phải con chó hả? - Chị Lắm thót tim, tay bám chặt thanh inox.

- Có shipper té xe ngoài kia, chân nó coi bộ nặng lắm!

- Trời, mưa gió vậy mà té đau dữ hả? - Một ông khách dãy sau ngần ngại. - Thôi bác Bảy ơi, sắp trễ giờ vô bến, về muộn công ty phạt trừ tiền ca đêm đó!

Bác Bảy kéo phanh tay cái “cạch” khô khốc, xoay người:

- Phạt thì phạt! Nhìn cái chân thằng nhỏ vậy mà ngồi yên được hả? Để người ta nằm đó, chút nữa xe container chạy ngang là...

- Hay gọi cấp cứu đi bác? - Một cô sinh viên rụt rè.

- Gọi thì xe từ trung tâm chạy ra cũng gần nửa tiếng. Thằng nhỏ nằm dưới mưa nửa tiếng chịu sao nổi? Xe mình chạy hai cây số là tới phòng khám khu vực.

Nói rồi bác giật cái áo khoác dù treo sau ghế, bật đèn cảnh báo, đẩy cửa bước xuống. Chị Lắm chộp cái hộp y tế dưới hộc cabin, vớ luôn cây đèn pin, quay lại hét vô lòng xe:

- Mấy ông thanh niên mạnh tay mạnh chân đâu? Xuống gom đồ giùm thằng nhỏ!

Không khí lành lạnh trên xe bỗng nóng bừng. Không ai bảo ai, hai chú thợ sơn tay chân còn dính vệt màu bước xuống trước. Anh xe ôm công nghệ đi nhờ xe, hai cô sinh viên ban nãy còn gà gật cũng che dù lật đật chạy theo. Ngay cả ông khách đòi “bỏ qua” lúc nãy cũng đứng dậy, xuống cầm cái dù che trên đầu cậu shipper.

Dưới cơn mưa tầm tã, ánh đèn xe 109 rọi sáng một góc đường Rạch Ráp. Chị Lắm cầm đèn pin đứng ra sau đuôi xe, quơ qua quơ lại vẫy mấy chiếc xe tải chạy ngang: “Chạy chậm! Chạy chậm coi! Có người nằm đây!”

Cậu shipper mặt cắt không còn hột máu, môi thâm ngắt vì lạnh và đau. Chị Lắm quỳ xuống nhìn cái cẳng chân, nhăn mặt:

- Chắc gãy rồi. Máu chảy dữ quá!

Chị xin cô sinh viên cây thước nhôm, lót thêm tấm bìa các-tông, nẹp chặt cái chân rồi quấn băng gạc thoăn thoắt như điều dưỡng lành nghề. Chị vừa quấn vừa liên hồi:

- Đêm hôm mưa gió chạy chi cho cố mạng vậy con? Mạng mình rẻ lắm sao mà phóng như ma đuổi?

Cậu run rẩy, nước mắt hòa nước mưa chảy ròng ròng:

- Em... em sợ trễ đơn... khách dọa hủy, trừ tiền...

- Mưa gió vầy, hủy thì hủy thôi, chớ chết rồi có ai thương đâu? - Bác Bảy đứng bên nói với vô, nhưng tay thì lẹ làng lấy cái khăn bông khô Rạng Đông của mình trùm lên cái đầu ướt nhẹp của cậu nhỏ. Rồi bác cùng hai chú thợ sơn luồn tay qua nách, nhẹ nhàng nâng cậu lên bậc thang xe buýt. Chị Lắm lót mấy tờ báo cũ xuống sàn, cho cậu ngồi dựa vô chỗ rộng rãi nhứt.

Ngoài kia, chiếc xe máy cong queo cái tay lái, đồ đạc rơi vãi khắp đường.

- Bác Bảy ơi, giờ cái xe với đống hàng này tính sao? - Chú thợ sơn đứng dưới mưa hỏi.

Bác Bảy thò đầu ra cửa:

- Chú Hai dắt xe đi theo sau đít xe buýt giùm tôi, tôi chạy chậm chậm cho chú theo kịp! Còn mấy đứa kia, gom hết hàng lên đây, chất gọn vô băng ghế sau!

Vậy là cả chuyến xe biến thành đội cứu hộ dã chiến. Mấy cô sinh viên nhặt từng gói hàng bọc ni lông đem lên xe. Chú thợ sơn dắt chiếc xe máy cà tàng lẽo đẽo theo sau, hai chú kia thay phiên đẩy. Không ai còn bận tâm chuyện trễ giờ hay lấm bùn dơ áo nữa.

Khi mọi thứ yên vị, bác Bảy nhấn ga, chuyến 109 lại bò chậm rãi trong mưa. Nhưng lần này điểm đến không phải bến xe trung tâm, mà là phòng khám đa khoa khu vực cách đó hai cây số.

Trong lòng xe ấm sực mùi dầu gió xanh hòa với mùi mưa và mồ hôi của những người lao động. Cậu shipper được chị Lắm cho uống ngụm trà nóng từ bình giữ nhiệt của bác Bảy, sắc mặt dần hồng hào. Cậu nhìn quanh: đống hàng xếp gọn gàng không thiếu món nào, chiếc xe máy lẽo đẽo theo sát đít xe buýt, và những bàn tay thô ráp đẫm nước mưa của người xa lạ. Cậu bật khóc thành tiếng, gục đầu xuống gối:

- Con cảm ơn... Con mới chạy mấy tháng, con hổng có tiền đóng viện phí...

- Bây khùng quá! - Chị Lắm đánh nhẹ hều vô vai cậu. - Lo cái chân trước đi, tiền nong tính sau. Còn tiền xe buýt năm ngàn thì chị bao!

Tới phòng khám, bác Bảy cùng mấy anh thanh niên khiêng cậu vô tận phòng cấp cứu. Bác móc trong túi quần ra xấp tiền dành đóng tiền điện, nhét đại vô tay cô y tá: “Mấy cô làm ơn bó bột giùm thằng nhỏ, thiếu bao nhiêu tui quay lại tính!”. Chị Lắm đứng bên cạnh cũng móc bóp, cằn nhằn: “Ông Bảy này, có một mình ông giàu hả?”. Hai ông khách, hai cô sinh viên, mỗi người dúi thêm vài tờ. Cô y tá nhìn xấp tiền đủ loại mệnh giá trong tay, không nói được tiếng nào.

Khi chuyến 109 về tới bến xả ca thì đã trễ gần một tiếng so với quy định.

Ông quản lý bến bước ra, tay cầm cái bảng kẹp hồ sơ:

- Làm gì mà chạy ca đêm trễ cả tiếng đồng hồ vậy? Biên bản phạt năm trăm ngàn trừ vô lương tháng này nghe!

Bác Bảy tháo nón, cười khè khè, chẳng buồn giải thích. Chị Lắm có phần thanh minh:

- Phạt thì phạt! Năm trăm ngàn mà giữ được cái chân với cái mạng thằng nhỏ, tụi tui chịu!

Đúng lúc đó, điện thoại trong túi ông quản lý rung lên. Ai đó vừa gửi vô nhóm Zalo của bến một tấm ảnh chụp vội bằng điện thoại: giữa trời mưa tầm tã, tấm lưng còng của bác Bảy và chị Lắm đang dìu một cậu shipper máu me lên xe, phía sau những hành khách ướt sũng đứng che ô, vẫy đèn. Bên dưới, hàng trăm lượt thả tim, hàng chục bình luận: “Chuyến 109 đó, quen mặt lắm”.

Ông quản lý nhìn tấm ảnh một hồi, rồi nhìn vô lòng xe buýt bầy hầy bùn đất, đống vỏ băng gạc còn nằm trong thùng rác. Ông xé cái biên bản làm đôi:

- Hai cái người này... đúng là thày lai hết chỗ nói! Thôi về nghỉ đi, mai tui dọn xe giùm cho!

Đêm hôm sau, xe 109 vừa vô bến đầu thì một đứa nhóc xóm trọ chạy tới, gõ cốp cốp vô cửa kính. Thằng nhỏ trao cho bác Bảy, chị Lắm tô hủ tiếu gõ còn nghi ngút khói, kèm bọc ni lông đựng hai chai dầu gió xanh mới tinh. Trên hộp xốp dán mảnh giấy caro học sinh, mực tím nguệch ngoạc: “Cảm ơn bác Bảy và chị Lắm chuyến 109 đêm qua. Tụi con xóm trọ khao bác tô hủ tiếu dằn bụng!”

Cuối đám nhóc, một cậu thanh niên bó bột tới đầu gối, chống nạng, đứng nép sau cột đèn, ngượng nghịu giơ lên cái khăn bông Rạng Đông đã giặt sạch, xếp vuông vức.

Top