13/03/2026
x
+
aa
-

Di sản văn hóa ghi dấu chiến công của lực lượng Biệt động Sài Gòn

(ĐCSVN) - Cách đây 55 năm, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đánh mạnh vào các cơ quan đầu não, căn cứ quan trọng của Mỹ - ngụy ở Sài Gòn và các thành thị. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đã “đánh bại ý chí xâm lược Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh” , làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải thay đổi chiến lược quân sự, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris bàn về lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Toạ đàm khoa học về di tích lịch sử căn nhà số 499/20 đường Cách Mạng Tháng Tám (Phường 13, Quận 10, TP Hồ Chí Minh).

Trong chiến công chung đó, có sự đóng góp to lớn của lực lượng đặc biệt - lực lượng Biệt động, trên một chiến trường đặc biệt - thành phố Sài Gòn. Biệt động Sài Gòn tiền thân là các tổ chức Tự vệ quyết tử được thành lập từ cuối năm 1945, đầu năm 1946 ở Sài Gòn. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tuy điều kiện còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng với tinh thần tự lực cánh sinh, với cách đánh bí mật, táo bạo, bất ngờ đã gây cho Pháp và tay sai những tổn thất nặng nề ngay tại trung tâm sào huyệt ở Sài Gòn, khiến kẻ thù khiếp sợ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng Biệt động Sài Gòn được xây dựng và phát triển trong giai đoạn Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965) và phát triển lên đỉnh cao trong “chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968). Trong giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Khu ủy, Bộ Chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định, Phân khu 6, lực lượng Biệt động được xây dựng hoàn chỉnh, phong phú, đa dạng hơn thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nghệ thuật tác chiến phát triển vượt bậc và đạt đến đỉnh cao, tương xứng với tầm vóc của cuộc chiến đấu mới.

Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, chỉ với gần 100 chiến sĩ, bằng lối đánh “xuất quỷ nhập thần”, lực lượng Biệt động Sài Gòn đã đồng loạt tiến đánh cùng lúc 5 mục tiêu chiến lược: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy và Đài phát thanh. Trong đó đã chiếm lĩnh và giữ được hai mục tiêu là Đại sứ quán Mỹ và Đài phát thanh suốt nhiều giờ trước sự phản kích ác liệt của kẻ thù. Tiếng vang lớn nhất trong những tiếng vang của Xuân Mậu Thân 1968 là trận đánh vào tòa Đại sứ quán Mỹ với một lực lượng rất nhỏ gồm 11 chiến sĩ chia làm 4 mũi tấn công, chiếm lĩnh tòa Đại sứ Mỹ trong nhiều giờ và địch chỉ chiếm lại được sau khi 10 chiến sĩ đã quả cảm hy sinh, 01 đồng chí bị thương, bằng hỏa lực hùng hậu bao gồm cả trực thăng, chiến xa. Sự kiện người Mỹ bị đánh bật khỏi tòa Đại sứ (Nhà trắng Phương Đông) đã gây ra nỗi kinh hoàng cho giới cầm quyền Mỹ. Sự hy sinh oanh liệt của các chiến sĩ biệt động tại toà Đại sứ đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý của công chúng Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, phong trào phản chiến ngày càng dâng cao; tác động đến tâm lý của binh lính Mỹ, khiến họ không thể tin tưởng vào chiến thắng trước một đối phương anh dũng, quật cường như thế. Tại mục tiêu Đài phát thanh, với 12 chiến sĩ biệt động chia làm hai hướng tấn công và chiếm lĩnh Đài phát thanh trong 4 tiếng đồng hồ. Trước sự tấn công, tái chiếm bằng một lực lượng lớn quân ngụy cùng trực thăng, thiết xa, xe tăng, các chiến sĩ biệt động lần lượt hy sinh. 4 đồng chí còn lại xác định không thể để rơi vào tay giặc đã “kết lại với nhau, dùng khối nổ 20kg đã chuẩn bị, sẵn sàng tự hy sinh và phá hủy luôn cơ cấu đài phát thanh của ngụy vào lúc 6 giờ sáng, giờ Sài Gòn ngày 02/02/1968, đúng mồng hai Tết”. Nhận xét về trận đánh này trong tập sách “Tết” viết về Mậu Thân 1968, nhà báo Mỹ Don Oberdoiter nhận định: có lẽ trận tấn công được tổ chức tốt nhất ở vùng trung tâm thành phố là trận đánh Đài phát thanh, một cơ sở hết sức quan trọng trong bất cứ cuộc đảo chánh hay nổi dậy nào. Tại mục tiêu Dinh Độc Lập, Đội 5 biệt động Thành với 14 chiến sĩ - là đơn vị đặc biệt tinh nhuệ - đã nổ súng tấn công. Trước sự phản kháng dữ dội của quân địch và sự tiếp ứng bằng trực thăng, thiết xa, xe tăng, các chiến sĩ biệt động đã phải rút về hướng đường Thủ Khoa Huân - Nguyễn Du để triển khai đội hình chiến đấu, cầm cự với địch kéo dài hơn 2 ngày, vượt xa kế hoạch 2 giờ đánh giữ mục tiêu được giao. Với lòng dũng cảm vô song, các chiến sĩ biệt động đã tiêu diệt được được gần 50 tên địch. Về phía ta, có 10 chiến sĩ hy sinh anh dũng, còn lại đều bị thương và bị địch bắt.

Tại mục tiêu Bộ Tổng tham mưu, với 25 chiến sĩ đã tấn công vào cổng số 4, ngã ba đường Trương Quốc Dũng - Võ Tánh (nay là đường Hoàng Văn Thụ). Dù quân địch đông, nhưng các chiến sĩ biệt động đã chiến đấu ngoan cường, giằng co với địch đến sáng ngày mồng ba Tết, tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên địch. Lực lượng của ta có 10 người hy sinh, 4 người bị bắt và 3 người mất tích.

Tại mục tiêu Bộ tư lệnh Hải quân ngụy, 17 chiến sĩ biệt động đã anh dũng chiến đấu với một hỏa lực rất lớn của địch. Tuy không cân sức nhưng các chiến sĩ biệt động đã chiến đấu, cầm cự hơn 4 tiếng đồng hồ, tiêu diệt được 12 tên địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến đấu. Về phía ta đã bị tổn thất lớn, 12 chiến sĩ anh dũng hy sinh và 2 đồng chí bị địch bắt. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là đỉnh cao của Biệt động Sài Gòn về nghệ thuật quân sự độc đáo, tổ chức chỉ huy đánh địch ở đô thị với tinh thần quả cảm của các chiến sĩ biệt động. Năm đội biệt động trực tiếp tấn công vào sào huyệt, đầu não của địch bằng một lực lượng ít, với vũ khí bộ binh đã đánh trả xe tăng, thiết giáp, máy bay và lực lượng bộ binh tinh nhuệ Mỹ - ngụy gấp nhiều lần, đã trực tiếp góp phần đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ và tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh. Hầu hết các chiến sĩ biệt động trực tiếp chiến đấu đã anh dũng hi sinh hoặc bị thương, rơi vào tay địch.

Để lại di sản văn hóa vô giá

Để có được thành tích, chiến công vang dội ấy, lực lượng Biệt động Thành đã phải trải qua một quá trình dài để từng bước hoàn thiện về tổ chức, về lực lượng, về kĩ chiến thuật chiến đấu, về nghệ thuật tác chiến và đặc biệt là công tác chuẩn bị về phương tiện, vũ khí chiến đấu. Tháng 4/1965, tại Suối Dây (Tây Ninh), Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp triển khai nhiệm vụ theo kế hoạch mùa khô 1964 - 1965 (Kế hoạch X). Lực lượng biệt động được giao nhiệm vụ chuẩn bị các mục tiêu chiến đấu. Để hoàn thành nhiệm vụ, các chiến sĩ biệt động tích cực vận chuyển vũ khí, cất giấu tại các cơ sở nội thành; đồng thời xây dựng các “lõm căn cứ” ngay trong nội thành, vùng ven nhằm đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Tuy Kế hoạch X không được thực hiện, nhưng công tác bảo đảm vẫn được tiếp tục để chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới khi có thời cơ, và thời cơ ấy là Tết Mậu Thân 1968. Đến trung tuần tháng 10/1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định tổ chức Hội nghị mở rộng ở chiến khu Dương Minh Châu để tiếp thu và triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Trung ương Cục về Tổng tiến công và nổi dậy, trước mắt là đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác chuẩn bị vũ khí, phương tiện và lực lượng.

Trong điều kiện địch khủng bố, ngăn chặn khốc liệt thì việc bí mật tổ chức vận chuyển vũ khí ém sẵn trong nội thành là một nhiệm vụ có tính then chốt, đặc biệt quan trọng. Với tinh thần khẩn trương, sẵn sàng hi sinh vì nhiệm vụ cách mạng, đến cuối năm 1967, lực lượng Biệt động Sài Gòn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xây dựng được một hệ thống kho hầm bí mật chứa vũ khí ngay cạnh các mục tiêu chiến lược mà dự kiến ta sẽ tổ chức tấn công. Mỗi mục tiêu tấn công đều được các chiến sĩ biệt động bố trí từ 1 đến 3 hầm chứa vũ khí.

Các cơ sở cất giấu vũ khí quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 gồm: Nhà số 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quận I), hiệu may Quốc Anh của gia đình đồng chí Trần Phú Cường và vợ là Trần Thị Út là chiến sĩ biệt động phục vụ tiến công Đài phát thanh Sài Gòn; Nhà số 438/58 đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng thành Tám, Quận 3) của gia đình đồng chí Lê Tấn Quốc. Kho này kết hợp với kho ở nhà đồng chí Trần Văn Lai phục vụ tiến công Dinh Độc Lập;  Hầm nhà số 287/70 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần, Quận 3) của gia đình đồng chí Trần Văn Lai (tức Mai Hồng Quế) phục vụ tiến công Dinh Độc Lập; Hầm nhà số 348/38B ấp Bắc Ái, xã Hòa Bình (nay là đường Phan Văn Trị, phường 11, quận Bình Thạnh) của gia đình đồng chí Trần Văn Miêng, vợ là Võ Thị Sang phục vụ tiến công Bộ Tổng tham mưu ngụy; Hầm nhà số 248/27 đường Nguyễn Huỳnh Đức (nay là đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận) của gia đình bà Bùi Thị Lý xây dựng, phục vụ tiến công Bộ Tổng tham mưu ngụy; Hầm nhà số 281/26/29 đường Trương Minh Ký (nay là đường Lê Văn Sĩ, quận Tân Bình) của gia đình đồng chí Phan Văn Bảy, phục vụ tiến công Bộ Tổng tham mưu ngụy;  Hầm nhà số 59 đường Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ) của gia đình bà Nguyễn Thị Huệ phục vụ tiến công tòa Đại sứ quán Mỹ; Hầm nhà số 93/22 đường Cường Đề (nay là đường Bùi Đình Túy, quận Bình Thạnh) của gia đình đồng chí Tô Minh Liêm phục vụ tiến công Bộ tư lệnh Hải quân ngụy; Hầm nhà số 183/4 đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3 tháng 2, quận 10) của gia đình đồng chí Đỗ Văn Căn, chuẩn bị vũ khí đánh Biệt khu Thủ đô, nhưng không thực hiện được nên hầm vũ khí vẫn còn nguyên cho đến ngày giải phóng; Hầm nhà số 8/4 đường Vườn Chuối, quận 3 của gia đình đồng chí Lâm Thị Ẩn phục vụ trận đánh bắn đạn cối 82mm vào tổng hành dinh tướng Westmoreland tại góc đường Nguyễn Du - Pasteur ngày 13/2/1967; Hầm nhà số 62/1 đường Dương Công Trừng (nay là 62/10B đường Nguyễn Thị Nhỏ, quận Tân Bình) của gia đình đồng chí Nguyễn Nhật Hiểu, phục vụ tiến công Đài truyền hình Sài Gòn trong đợt 2 Mậu Thân; Hầm ở hương lộ 14 của gia đình đồng chí Trần Thị Bi, chứa khẩu cối 82mm bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất tháng 7/1967; Hầm nhà số 171 đường Bạch Đằng, Hàng Xanh, quận Bình Thạnh của gia đình đồng chí Vũ Bá Tài, nơi trú đóng của 8 cán bộ, chiến sĩ cơ yếu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968;  Tiệm phở Bình số 7, Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng, quận 3) của gia đình ông Ngô Toại là sở Chỉ huy tiền phương của Phân khu 6 ngay trước giờ xuất quân đợt 1, có mặt các đồng chí Võ Văn Thạnh, Chính ủy Phân khu, Nguyễn Đức Hùng, Tham mưu trưởng Phân khu, Chỉ huy trưởng F100, phát lệnh tiến công  đánh chiếm các mục tiêu nội đô Sài Gòn…

Số lượng vũ khí mỗi hầm thường gần 1 tấn, gồm: 350kg thuốc nổ TNT hoặc C4; 1 hộp kíp nổ; 10 AK và 3000 viên đạn; 3 súng ngắn 200 viên đạn; 2 B40 và 20 quả đạn; 20 quả mìn; 50 lựu đạn… Việc xây dựng các căn hầm cùng với quá trình tiếp nhận, cất giấu, bảo vệ và bảo quản khối lượng vũ khí trong lòng địch là một chuỗi công việc cực kỳ khó khăn và nguy hiểm, đòi hỏi người thực hiện nhiệm vụ ngoài kinh nghiệm hoạt động bí mật, ngoài trí thông minh phải chấp nhận hy sinh thầm lặng. Những gia đình sống trên “kho” vũ khí nhiều năm trời, bất chấp nguy hiểm, có những gia đình cả nhà bị địch bắt, tra tấn, đánh đập dã man và đày ra Côn Đảo. Bên cạnh đó, lực lượng Biệt động Thành còn xây dựng được 19 lõm chính trị gồm 325 gia đình cơ sở cách mạng trung kiên, tạo nên 400 địa điểm ém quân từ vùng trung tuyến đến nội thành phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Những chiến công xuất sắc, sự hi sinh lớn lao và những bài học kinh nghiệm trong chiến đấu của lực lượng Biệt động Sài Gòn sẽ còn mãi với thời gian và đi vào lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng như một lẽ tự nhiên. Những trận đánh, những địa điểm tập kết vũ khí, hậu cần, nơi ém quân, cơ sở cách mạng trung kiên… kể trên ghi dấu ấn đậm nét chiến công ngời sáng của lực lượng Biệt động Thành và đã trở thành di tích lịch sử cách mạng - di sản văn hóa vô giá, được kết tinh bằng xương máu, bằng ý chí quyết tâm, bằng trí thông minh và bằng sự quả cảm… của các chiến sĩ Biệt động Thành và đồng bào trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Những “địa chỉ đỏ” trong lòng Thành phố

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã nhanh chóng chỉ đạo các đơn vị chuyên môn tổ chức các hoạt động nghiệp vụ để tiến hành lập hồ sơ di tích, xây dựng bia ghi dấu chiến công, bia tưởng niệm những địa điểm liên quan đến sự kiện tiến công địch trong Mậu Thân 1968; sưu tầm các tài liệu hiện vật liên quan nhằm tôn vinh và tri ân sự hi sinh và công trạng của cán bộ, chiến sĩ Biệt động Sài Gòn, các lực lượng vũ trang và đồng bào đã ngã xuống vì nền độc lập dân tộc. Đến cuối năm 2017, có 13 di tích liên quan đến hoạt động của lực lượng Biệt động Sài Gòn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. 12 kho vũ khí của lực lượng Biệt động xây dựng cho Tổng tiến công đã được nhân dân ghi nhận tôn vinh, trong đó có 3 kho được xếp hạng di tích cấp Quốc gia. Ngoài ra, di sản văn hóa liên quan đến lực lượng biệt động còn nhiều tài liệu, hiện vật khác, như: phim, ảnh, tài liệu, phương tiện chiến đấu, phương tiện phục vụ chiến đấu, đồ dùng cá nhân, phương tiện ngụy trang, hóa trang… được lưu giữ, trưng bày tại các bảo tàng, thư viện, trung tâm lưu trữ trong và ngoài nước và trong nhân dân. 3 di tích liên quan đến hoạt động của lực lượng Biệt động Sài Gòn trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã trở thành “địa chỉ đỏ”, trong đó tiêu biểu là các di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp Quốc gia.

Hầm chứa vũ khí đánh Dinh Độc Lập

Đây là ngôi nhà số 287/70 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần, Quận 3) của gia đình đồng chí Trần Văn Lai (tức Mai Hồng Quế), chiến sĩ biệt động, phục vụ tiến công Dinh Độc Lập. Tại đây, đồng chí Trần Văn Lai đã tự mình đào hầm hơn 7 tháng trời để cất giấu một lượng vũ khí gần 2 tấn, gồm: súng B40, thuốc nổ TNT, súng AK, lựu đạn, mìn, các loại đạn dược và xe ô tô chở vũ khí và chiến sĩ biệt động tấn công Dinh Độc Lập. Đây được xem là căn hầm lớn nhất, có thiết kế chắc chắn và chứa nhiều vũ khí nhất tại nội thành Sài Gòn lúc bấy giờ, góp phần làm nên những trận đánh "xuất quỷ nhập thần" của lực lượng Biệt động Sài Gòn. Điều đặc biệt là căn nhà nằm ngay giữa trung tâm thành phố, ngay gần Dinh Độc Lập, do đó địch kiểm tra vô cùng gắt gao, việc vận chuyển và cất giấu một lượng lớn vũ khí như vậy phải được thực hiện hết sức khéo léo, tỉ mỉ và tuyệt đối bí mật. Từ căn hầm này, đêm mùng 1 rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân năm 1968, các chiến sĩ Biệt động đội 5 đã xuất phát tiến về Dinh Độc Lập - cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Sau trận đánh, địch bắn phá căn nhà và rơi vào tay địch nhưng chúng không biết có hầm vũ khí. Sau ngày thống nhất gia đình đồng chí Trần Văn Lai mới có cơ hội phục hồi nguyên trạng.

Bên cạnh đó, căn hầm gắn liền với tên tuổi của chiến sĩ biệt động Trần Văn Lai, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và hai người vợ của mình cũng đều là chiến sĩ biệt động (đồng chí Đặng Thị Thiệp và liệt sĩ Phạm Thị Chinh). Tại mục tiêu Dinh Độc Lập, đồng chí Trần Văn Lai cùng các chiến sĩ Đội 5 - đơn vị đặc biệt tinh nhuệ - đã táo bạo, bất ngờ nổ súng, tiêu diệt được 50 tên địch, chiến đấu, cầm cự với địch kéo dài hơn 2 ngày, đồng chí Trần Văn Lai bị địch bắt và đưa đi đày ở Côn Đảo.

Với những đóng góp đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, hầm ngôi nhà số 287/70 đã được công nhận và xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1988. Ngoài việc bảo quản nguyên trạng ngôi nhà, hầm chứa vũ khí, các thế hệ gia đình đồng chí Trần Văn Lai còn sưu tầm hàng ngàn tài liệu, hiện vật liên quan đến lực lượng này để trưng bày, giới thiệu đến công chúng.

Sở chỉ huy tiền phương Phân khu 6 trong chiến dịch Mậu Thân 1968

Đây là Tiệm phở Bình, địa chỉ số 7, Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng, phường 8, quận 3), của gia đình ông Ngô Toại được chọn làm Chỉ huy tiền phương của Phân khu 6 ngay trước giờ xuất quân đợt 1 và là nơi chính thức phát lệnh tiến công đánh chiếm các mục tiêu nội đô Sài Gòn, với sự có mặt của các đồng chí: Võ Văn Thạnh, Chính ủy Phân khu; Nguyễn Đức Hùng, Tham mưu trưởng Phân khu, Chỉ huy trưởng Biệt động Sài Gòn (F100); Hai Trí (Nguyễn Văn Trí), Chính trị viên cụm J9; Ba Đen (Ngô Thành Vân), Đội trưởng A30 - đội trưởng đội biệt động 11 đánh tòa Đại sứ Mỹ;  Ba Phong (Đỗ Tấn Phong), Chỉ huy trưởng Cụm biệt động 679… Với những đóng góp đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tiệm phở Bình được công nhận và xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1988. Các thế hệ gia đình ông Ngô Toại ngoài việc giữ gìn, bảo quản ngôi nhà còn sưu tầm và trưng bày nhiều hình ảnh, kỉ vật liên quan đến sự kiện Mậu Thân 1968.

Hầm chứa vũ khí thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Đây là ngôi nhà số 183/4 đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3 tháng 2, quận 10) của gia đình chiến sĩ biệt động Đỗ Văn Căn, chuẩn bị vũ khí đánh Biệt khu Thủ đô ngụy. Đầu năm 1965, thực hiện sự chỉ đạo, đồng chí Đỗ Văn Căn gấp rút xây dựng hầm bí mật ngay tại nhà. Đây là công tác tuyệt mật nên đồng chí phải khéo léo thuyết phục đưa cả gia đình về quê một thời gian. Sau khi chuẩn bị mọi vật liệu cần thiết, đợi đến đêm việc đào hầm mới được diễn ra trong vòng một tháng mới hoàn thành. Căn hầm chứa: 50kg thuốc nổ và kíp nổ, 7 tiểu liên AK cùng 21.000 viên đạn, 50 lựu đạn, 1 súng ngắn kèm 50 viên đạn và một số quân trang quân dụng khác. Tuy nhiên, mục tiêu tiến đánh Biệt khu Thủ đô ngụy không được thực hiện, do đó hầm vũ khí còn nguyên vẹn.

Tháng 4/1975, hầm vũ khí tiếp tục được dự kiến phục vụ cuộc tiến công vào Biệt khu Thủ đô ngụy (nay là Bộ chỉ huy Quân sự thành phố), nhưng kế hoạch chưa được thực hiện thì trưa ngày 30/4/1975 địch tuyên bố đầu hàng. Sau 30/4/1975, hầm chứa vũ khí tại 183/4 đường Trần Quốc Toản trở thành di tích lịch sử cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ. Năm 1988 được công nhận và xếp hành Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Những di tích lịch sử này thực sự đã trở thành “địa chỉ đỏ” trong lòng Thành phố, chứa đựng giá trị di sản to lớn, trực tiếp góp phần giới thiệu những chiến công, những tấm gương ngời sáng, lịch sử truyền thống hào hùng của lực lượng Biệt động Sài Gòn và của đồng bào cho công chúng trong và ngoài nước. Qua đó góp phần giáo dục lịch sử truyền thống thống yêu nước, ý chí độc lập tự chủ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng... cho các tầng lớn nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau./.


* Số liệu tổng hợp từ cuốn: Hội thảo khoa học “Lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm”; Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.387, 388, 389.

Thiếu tướng, TS. Đào Ngọc Dinh
Viện trưởng Viện Chiến lược Công an

Other news

Phường Ninh Kiều tổ chức chương trình nghệ thuật tuyên truyền về bầu cử 
(CTO) - Những giai điệu và thông điệp trong chương trình nghệ thuật đã tạo không khí vui tươi, phấn khởi, là lời mời gọi nhân dân hăng hái tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Những thước phim điện ảnh kinh điển trên truyền hình Cần Thơ 2 
Có những thước phim xưa nhưng không bao giờ cũ. Với vệt phim “Điện ảnh cuối tuần” lúc 19 giờ, thứ Bảy, Chủ nhật hằng tuần trên kênh Cần Thơ 2; Báo và Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ mong muốn đưa những tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm...
Thông điệp ý nghĩa về ngày bầu cử 
Những ngày qua, nhiều xã, phường của TP Cần Thơ rộn vui với chương trình nghệ thuật chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 do Đoàn Cải lương Tây Đô thuộc Trung tâm Văn hóa, Nghệ thuật TP Cần Thơ thực hiện.
40 năm giữ văn hóa truyền thống của Đội Nhạc lễ cưới cổ truyền Tum Pók Sók 
Trong lễ cưới của đồng bào Khmer, tiếng nhạc mở cổng rào, cột tay… không chỉ thuộc về nghi thức mà còn là linh hồn buổi lễ. Âm nhạc dẫn dắt từng bước chuyển của nghi lễ, gắn kết hai họ, gửi gắm ước vọng hạnh phúc bền lâu.
“Tài” - Khi tay đã “nhúng chàm”, có hoàn lương được không? 
“Tài” là phim hành động do ca sĩ Mỹ Tâm sản xuất, Mai Tài Phến đạo diễn, đang dẫn đầu phòng vé khi ra mắt dịp 8-3. Phim tạo ấn tượng với yếu tố hạnh động đẹp mắt cùng thông điệp ý nghĩa về hành trình hoàn lương của người trót sa vào con đường tội phạm.
Top