Đồng bằng sông Cửu Long bị sạt lở đe dọa (Bài cuối)
Từ vùng đất trù phú được cát, phù sa thượng nguồn Mekong bồi đắp với lịch sử 6.000 năm; khoảng 20 năm gần đây, Đồng bằng sông Cửu Long dần rơi vào tình trạng bất ổn. Hệ thống thủy điện dày đặc ở thượng nguồn Mekong đã làm giảm cát, phù sa về hạ nguồn. Cộng với việc khai thác quá mức khiến nguồn cát sông bị thâm hụt, tình trạng lở vì thế bắt đầu nhiều hơn bồi. “Vựa lúa” miền Tây (chiếm 50% sản lượng cả nước) cùng sinh kế của trên 17 triệu người dân đồng bằng đang bị đe dọa.
Bài cuối: "Cãi nhau" với thiên nhiên thường phải trả giá đắt!
Nguyên nhân sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gia tăng được xác định là do thiếu cát, phù sa từ thượng nguồn. Hiện chúng ta lại khai thác cát sông vốn đang thâm hụt để xây dựng các công trình chống sạt lở. Phóng viên (PV) Báo Long An phỏng vấn thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện - chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL, để lý giải thực trạng dường như nghịch lý này.

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện
- PV: Thưa ông, ĐBSCL mất hàng ngàn năm để hình thành, nhưng trong vài chục năm trở lại đây, tình trạng lở nhiều hơn bồi. Vì sao có tình trạng này?
Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện: Ông bà ta có câu “dòng sông bên lở bên bồi” là trong bối cảnh ngày xưa. Một dòng sông tự nhiên không đứng yên mà luôn tiến hóa dịch chuyển qua lại, sạt bên này bồi bên kia rồi sau đó có thể quay lại bồi bên này sạt bên kia. Trong quá khứ, khi mỗi năm, sông Mekong miệt mài mang về khoảng 160 triệu tấn bùn và 30 triệu tấn cát thì sạt lở - bồi đắp là tự nhiên và bồi đắp luôn nhiều hơn sạt lở. Kết quả là đồng bằng luôn nở ra, tiến về phía biển Đông khoảng 16m/năm, về hướng mũi Cà Mau 26m/năm trong 6.000 năm bồi đắp.
Đến đầu thập niên 1990, khi các đập thủy điện dần xuất hiện trong lưu vực Mekong, bùn cát về ĐBSCL bắt đầu giảm, sạt lở bắt đầu gia tăng. Năm 2005 có thể xem là thời điểm ngưỡng khi tốc độ sạt lở đuổi kịp tốc độ bồi đắp. Sau năm 2005 đến nay, sạt lở gia tăng dữ dội, bồi đắp sụt giảm mạnh nên đồng bằng bị teo tóp lại.
Vậy, nguyên nhân chính của sạt lở ở ĐBSCL ngày nay là do thiếu hụt phù sa (bùn, cát), tức là thiếu chính loại vật liệu đã bồi đắp tạo nên vùng đất này. Thiếu bùn thì dòng nước trở thành dòng “nước đói” ăn vào bờ để bù năng lượng. Thiếu cát thì đáy sông bị sâu, nghĩa là bờ bị cao hơn, nặng hơn, dễ sụp đổ hơn. Nguyên nhân đằng sau sự thiếu hụt bùn, cát là do các đập thủy điện chặn lại và hoạt động khai thác cát trên suốt chiều dài sông Mekong, kể cả ở ĐBSCL.
Tất cả các yếu tố khác đều là phụ, hoặc là cục bộ tại chỗ, không phải là nguyên nhân chung của hiện tượng sạt lở hiện nay.
- PV: Mỗi năm, ĐBSCL đầu tư hàng ngàn tỉ đồng thi công hệ thống bờ kè chống sạt lở nhưng số điểm sạt lở vẫn tiếp tục tăng. Bờ sông sạt lở do thiếu cát nhưng lòng sông lại bị khai thác cát để xây bờ kè chống sạt lở. Phải chăng đây là nghịch lý và chúng ta đang quá lạm dụng các giải pháp công trình?
Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện: Ứng phó với sạt lở, chúng ta có thể nghĩ tới 3 nhóm giải pháp: Giải pháp công trình, giải pháp mềm và phương án rút lui.
Biện pháp công trình có thể bảo vệ được một số nơi trong một thời gian nhưng có nhiều nhược điểm.
Thứ nhất, dòng sông đang bị mất cân bằng nghiêm trọng, do đó có nhiều yếu tố bất định, biến động nhưng việc thiết kế công trình không tính hết sự biến động vì tính hết thì công trình sẽ rất đắt. Đó là chưa kể rủi ro thiết kế sai, thi công kém chất lượng. Thực tế cho thấy, có những công trình sụp đổ nhiều lần, sụp đổ ngay lúc thi công và có những nơi sạt lở nhiều hơn, người dân bất ổn hơn sau khi có công trình.
Thứ hai, công trình rất đắt đỏ, chúng ta sẽ không bao giờ có đủ tiền để chạy theo sạt lở bằng phương pháp này.
Thứ ba, khi dòng sông chọn một nơi nào đó để gây sạt lở thì nơi đó là hợp lý nhất đối với dòng sông. Chúng ta can thiệp bằng công trình là chúng ta đang “cãi nhau” với dòng sông. Dòng sông sẽ tấn công vào công trình, và nếu công trình quá vững chắc (và rất đắt tiền) thì nó sẽ tìm nơi khác tấn công, gây sạt lở.
Thứ tư, công trình nào cũng có tuổi thọ chứ không vĩnh cửu. Chi phí duy tu, bảo dưỡng sẽ tăng dần theo tuổi công trình. Khi xây dựng công trình thì phải tính tới kinh phí duy tu, bảo dưỡng trong tương lai chứ không chỉ đủ tiền xây xong một lần rồi thôi. Càng nhiều công trình thì gánh nặng ngân sách cho duy tu, bảo dưỡng càng nhiều.
Thứ năm, công trình có thể tạo cảm giác an toàn giả. Có nơi sau khi có công trình, người dân cảm thấy an tâm nên dốc hết tiền dành dụm cả đời xây lại nhà, sau đó sạt lở tiếp thì mất sạch. Vậy nên, công trình chỉ nên làm ở những nơi xung yếu như thành phố, khu đông dân cư chưa thể di dời chứ không nên làm tràn lan.

Lãnh đạo xã Phước Vĩnh Đông cùng lãnh đạo huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An khảo sát sạt lở
Biện pháp mềm như trồng bần ven sông thì phù hợp sinh thái, ít tốn kém, nhưng chỉ khả thi ở những nơi còn bồi hoặc ít sạt lở. Ở những nơi sạt lở mạnh thì không còn khả thi nữa.
Trong tình hình này, chúng ta không thấy có lý do gì để sạt lở có thể giảm hoặc dừng lại trong tương lai gần. Do đó, để hạn chế thiệt hại tài sản cho người dân thì cần ưu tiên biện pháp thứ ba: Biện pháp rút lui, di dời hạ tầng, đường sá và tái định cư cho người dân khỏi những vùng nguy cơ cao.
Việc di dời hạ tầng và tái định cư cho người dân sớm, trước sạt lở sẽ ít thiệt hại hơn sau khi sạt lở đã xảy ra rồi. Việc tái định cư cho người dân phải kèm hỗ trợ ổn định sinh kế tại nơi ở mới. Việc di dời, tái định cư sẽ là việc khó cho cả người dân và chính quyền địa phương.
Đối với người dân, khi sinh sống ở nơi nào đó thì giống như một cái cây bám rễ về mặt xã hội, mưu sinh với những mối quan hệ xóm giềng, mua bán, con cái đi học; còn dời đến nơi mới không dễ dàng gì ổn định sinh kế. Nhưng khi nơi nào đó chắc chắn sẽ sạt lở thì người dân nên đi vì sạt lở là mất hết.
Đối với chính quyền, cái khó là không có quỹ đất để tái định cư cho người dân, thiếu kinh phí. Dù là khó thì biện pháp này vẫn nên được ưu tiên trong bối cảnh hiện nay. Càng thiếu kinh phí thì càng nên cắt giảm các công trình hàng chục, hàng trăm tỉ đồng không hiệu quả.
Vấn đề còn lại là cảnh báo sớm để tránh thiệt hại tài sản, tính mạng cho người dân. Vẫn còn nhiều vụ sạt lở mà chân bờ đã bị rỗng từ lâu, người dân sống ở trên bờ không hay biết cho đến khi khối đất trượt xuống kéo theo nhà cửa, tài sản xuống sông, có khi lúc người dân đang ngủ. Với đặc điểm sạt lở bờ sông là dòng nước âm thầm bào mòn chân bờ, tạo “hàm ếch” rỗng bên dưới thì việc cảnh báo sớm chính là việc dò tìm các “hàm ếch” mới xuất hiện.
Việc cảnh báo này không khó và ít tốn kém vì chúng ta hầu như đã biết rõ những đoạn sông nào nguy cơ cao. Chỉ cần dùng thiết bị quét lòng sông tại những nơi nguy cơ cao này hàng tuần, hàng tháng vào giữa đến cuối mùa khô thì sẽ phát hiện kịp thời những hàm ếch để thông báo cho người dân kịp di tản, tránh được nhiều thiệt hại.
- PV: Theo dự báo, đến năm 2040, ĐBSCL sẽ không còn cát từ thượng nguồn đổ về. Chúng ta cần hành động ra sao để cứu lấy miền Tây?
Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện: Mô hình của Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) cho thấy, đến năm 2020, lượng bùn hàng năm sông Mekong đổ về trong mùa lũ chỉ còn khoảng 49 triệu tấn/năm, so với 160 triệu tấn trước đây thì chỉ còn 1/3. Nếu tất cả các đập trong lưu vực Mekong được xây dựng trên dòng chính và dòng nhánh (khoảng 140 đập) thì 96% lượng bùn sẽ bị giữ lại, chỉ còn 4% về đồng bằng. Khi đó, nước về ĐBSCL sẽ rất trong và rất “đói”.
Cát thì chắc chắn sẽ không còn về nữa vì cát là vật liệu nặng di chuyển ở đáy sông khi nào có dòng nước mạnh. Cát chỉ di chuyển được trong 3 tháng đầu mùa lũ (tháng 7, 8, 9), đến tháng 10 thì dừng lại ở những “trạm dừng chân” trên sông Mekong, chờ mùa lũ năm sau đi tiếp. Cát phải mất vài chục năm mới đi hết hành trình trên 4.000km từ thượng nguồn về ĐBSCL.
Trong những năm gần đây, vẫn còn một số ít cát (6-7 triệu tấn/năm) về đồng bằng là số cát đã khởi hành mấy chục năm trước, đã vượt qua vị trí các đập và đang tiếp tục hành trình đi xuống. Số cát ở phía trên các đập sẽ không có cách nào vượt qua đập được. Số cát ít ỏi vẫn còn về này sẽ hết trong vài năm tới. Sạt lở theo đó sẽ còn tăng dữ dội ở ĐBSCL.
Trong bối cảnh đó, mọi giải pháp ở nội tại đồng bằng cũng chỉ là đối phó chứ không giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Nguyên nhân còn thì hệ quả sẽ tiếp diễn. Sạt lở sẽ chỉ giảm khi dòng sông “đòi đủ nợ”, tức là gây sạt lở đủ, mở rộng ra, tìm được điểm cân bằng mới. Chúng ta chưa biết điểm cân bằng mới ở đâu. Do đó, biện pháp ưu tiên hiện nay nên là biện pháp thuận tự nhiên, di dời hạ tầng và người dân như đã bàn ở trên hơn là tiếp tục “cãi nhau” với dòng sông. Cãi nhau với thiên nhiên, chúng ta thường phải trả giá đắt hơn!
- PV: Xin cảm ơn ông!
Thanh Nga - Thường Sơn

