Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên để phát triển bền vững
Sáng 16/12, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên bền vững, vượt đại dịch”.
Tại buổi tọa đàm, các chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP26) vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đề nghị ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), phục hồi tự nhiên phải trở thành ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách phát triển, là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của mọi cấp, mọi ngành, mọi doanh nghiệp và người dân.
![]() |
| Tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Đồng bằng sông Cửu Long: Thuận thiên bền vững, vượt đại dịch”. Ảnh: TL |
Quan điểm “Mọi hành động ứng phó với BĐKH phải dựa vào tự nhiên, lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể để phát triển bền vững” mà người đứng đầu Chính phủ phát biểu tại COP 26 sẽ tiếp tục là “kim chỉ nam”, là phương châm hành động cho các cấp chính quyền, cho người dân, và nó gắn kết với Nghị quyết 120/NQ-CP về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH – hay còn được gọi là Nghị quyết “thuận thiên”.
Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã dành sự quan tâm đặc biệt để giúp các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng các kế hoạch, chương trình giúp khu vực có nền tảng phát triển bền vững, giúp người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn. Hạ tầng giao thông, các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, y tế cơ sở, an sinh xã hội, phòng chống dich bệnh… là những ưu tiên trước mắt cho khu vực.
Nghị quyết 120/NQ-CP được ban hành năm 2017 đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy của các cấp, các ngành trong xây dựng chính sách, xác định các chương trình chiến lược, các dự án cấp bách. Thực tiễn bốn năm triển khai cho thấy, việc kế thừa các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước cùng với tích hợp, lồng ghép kết quả các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ, các dự án phát triển đã tạo đà mạnh mẽ cho ĐBSCL phát triển và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thiếu quyết liệt, thiếu sự chủ động trong quá trình triển khai tại một số Bộ, ngành, địa phương. Trước bối cảnh BĐKH ngày càng phức tạp, dịch bệnh COVID-19 diễn biến khó lường ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ĐBSCL, đòi hỏi cần có nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, khoa học, để có định hướng chiến lược tổng thể, lâu dài, những giải pháp đồng bộ, cấp bách, những cơ chế, chính sách mới mang tính đột phá, biến thách thức thành cơ hội phát triển nhanh và bền vững.
Để có cái nhìn tổng thể về mô hình chuyển đổi, phát triển vùng ĐBSCL thích ứng với BĐKH, nhất là trong bối cảnh đại dịch COVID-19 ảnh hưởng nặng nề đến sinh kế của người dân, tại buổi tọa đàm các chuyên gia, nhà khoa học đã tập trung phân tích những ảnh hưởng của BĐKH tại ĐBSCL và chia sẻ các giải pháp hướng tới phát triển bền vững đồng bằng.
Theo ông Trần Quang Hoài, Tổng Cục trưởng Tổng cục Phòng chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, BĐKH trong thời gian qua tác động sâu rộng đến đời sống dân sinh, đời sống kinh tế xã hội của ĐBSCL như: Mưa lũ có sự thay đổi, mưa mùa hạn ít, tập trung mùa mưa; Bão có sự chuyển dịch về ĐBSCL nhiều hơn; hạn hán xâm nhập mặn liên tục và ngày càng khốc liệt, ranh giới xâm nhập mặn lấn sâu vào cửa sông; lún sụt cũng diễn ra khốc liệt, cùng với đó nước biển dâng và triều cường cũng gia tăng. Nhiều khu vực đô thị trước đây như Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh ít bị ảnh hưởng thì nay, tình trạng ngập lụt do triều cường ngày càng gia tăng.
Để giải quyết vấn đề này, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống thiên tai (PCTT) và Bộ NN&PTNT đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành những chương trình, nghị quyết… đặc biệt là Chiến lược Quốc gia về PCTT. Trong Chiến lược có các chương trình, dự án cụ thể. Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về phát triển kinh tế ĐBSCL… Những chương trình, chiến lược này từng bước đi vào cuộc sống và thực tế chúng ta đang tận hưởng nguồn lực và các hiệu quả từ khoa học, giống mới… để người dân có thể chuyển đổi sinh kế các vùng cho phù hợp, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất.
Kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ lấy “thuận thiên” làm tôn chỉ cho Nghị quyết 120/NQ-CP, GS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ cho biết: Chủ trương thuận thiên với Nghị quyết 120 của Chính phủ ra đời rất đúng lúc, nhất là khi biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất mạnh mẽ không chỉ cho ĐBSCL của mình mà cho cả thế giới.
“Về thiên nhiên hiện nay, chúng ta có ít nước trong mùa khô, mùa mưa thì không giữ được nước ngọt, thành ra cách sử dụng nước thông minh là chúng ta thuận thiên”, GS Võ Tòng Xuân cho hay.
Theo GS Võ Tòng Xuân, bốn năm vừa qua sau khi có Nghị quyết 120 các tỉnh cũng như các bộ, ngành có chuẩn bị chuyển sang giai đoạn thuận theo thiên nhiên để phát triển ĐBSCL, đi tới kinh tế nông nghiệp.
“Tôi mong rằng tới đây khi Chính phủ triển khai quy hoạch cụ thể hơn, để đây chắc chắn là thuận thiên. Có những nơi mùa mưa chứa nước nhiều quá nhưng mùa khô lại không có, thay vì 3 vụ lúa vừa tốn kém nước ngọt hiếm hoi, thì mùa khô chuyển sang xoài chẳng hạn. Tới đây các ngành cũng như bà con nông dân ngồi lại cùng với doanh nghiệp có đầu ra lớn bàn bạc để Nghị quyết thành công hơn”, GS Võ Tòng Xuân chia sẻ.
Để phát huy hơn nữa tiềm năng của ĐBSCL, GS Trần Thục, Phó Chủ tịch, Hội đồng tư vấn của Ủy ban quốc gia về BĐKH nhận định: Phát triển thủy sản cần 3 yếu tố là nước sạch (nước ngọt sạch, nước mặn sạch), giống và đầu ra.
Về nước sạch, có nhiều đề án đang và đã hoàn thành ở Sóc Trăng, Bến Tre, đặc biệt năm 2021 đã hoàn thành đề án cống Kênh Cụt (Rạch Giá)... Những đề án này sẽ đảm bảo cung cấp nước ngọt sạch cho nuôi trồng thủy sản.Hiện nay, tồn tại là nước cấp cho nuôi trồng thủy sản và nước thải vẫn thải chung qua các kênh nên gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản. Thời gian tới, để phát triển nuôi trồng thủy sản thì phải khắc phục tồn tại này.
Về giống, GS Trần Thục cho hay, chúng ta đã có sự tiến bộ vượt bậc, đã chủ động được giống tôm sú, ghẹ từ các nguồn của Nhà nước và tư nhân. Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm đã được củng cố, ta đã có thể kiểm soát được giống trôi nổi, giống kém chất lượng. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn sản xuất nhỏ lẻ và khi sản xuất giống cũng thải nước thải ra xung quanh, gây ảnh hưởng đến môi trường. Về đầu ra, phụ thuộc vào thị trường, vừa qua Bộ Nông nghiệp và Bộ Công Thương đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc dự báo về thị trường cho bà con. Bộ cũng đẩy mạnh mô hình hợp tác xã để kết nối các hộ nuôi trồng thủy sản với doanh nghiệp.
“Tôi cho rằng, trong tương lai 3 vấn đề về nước sạch, giống và đầu ra cho thủy sản vẫn là những vấn đề cần quan tâm”, GS Trần Thục cho biết./.


