Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên xuống giống vụ Đông Xuân
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: BT) |
Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, kế hoạch sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2021 - 2022 toàn vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên khoảng 321,5 nghìn ha, giảm 1,08 nghìn ha; năng suất bình quân 67,41 tạ/ha, tăng 0,54 tạ/ha; sản lượng dự kiến 2.167 nghìn tấn, tăng 10 nghìn tấn so với Đông Xuân 2020 - 2021. Trong đó, vùng duyên hải Nam Trung bộ với diện tích 230 nghìn ha; năng suất 67,93 tạ/ha, tăng 0,43 tạ/ha; sản lượng 1.562 nghìn tấn, tăng 7 nghìn tấn so cùng kỳ. Vùng Tây Nguyên 91,5 ha, năng suất 66,11 tạ/ha, tăng 0,80 tạ/ha; sản lượng ước đạt 605 nghìn tấn, tăng 3 nghìn tấn so với cùng kỳ.
Để có được vụ sản xuất Đông Xuân đạt hiệu quả, Cục Trồng trọt đề nghị, với vùng an toàn nguồn nước, cho sản xuất tập trung canh tác đúng lịch thời vụ, tăng cường thâm canh. Vùng có nguy cơ hạn hán, không đủ lượng nước cho sản xuất cần tập trung bố trí chuyển từ cơ cấu sản xuất 3 vụ sang 2 vụ, hoặc bố trí lại thời vụ sản xuất phù hợp để né tránh hạn, mặn và áp dụng kỹ thuật canh tác để hạn chế tác động của hạn, mặn đến sản xuất lúa. Đẩy mạnh chuyển đổi những vùng thiếu nước tưới sang cây trồng cạn ngắn ngày để tăng hiệu quả sản xuất và tiết kiệm nước tưới.
Cụ thể, Cục Trồng trọt khuyến cáo, tại các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, những diện tích chủ động nguồn nước, bố trí thời vụ xuống giống đại trà tập trung từ ngày 10/12 - 31/12/2021 (cố gắng không gieo muộn hơn sau ngày 10/1/2022), thu hoạch trước 30/4/2022. Những diện tích không chủ động nguồn nước, cần gieo sớm hơn lúa đại trà chính vụ (trước 10/12/2021), diện tích này chiếm 10-15 % diện tích gieo trồng. Với vùng trũng thoát nước kém, tranh thủ nước rút đến đâu xuống giống đến đó; phấn đấu gieo sạ trước 10/1/2022. Đối với những diện tích nước rút quá chậm sau 10/1/2022, có thể gieo mạ cấy để tranh thủ thời gian và rút ngắn sinh trưởng, lúa trỗ bông sớm.
Tại các tỉnh Tây Nguyên, vùng chủ động nguồn nước tưới, tập trung xuống giống trong khung thời vụ từ 10/12 – 31/12/2021. Những có nguy cơ thiếu nước vào cuối vụ (mùa khô), các địa phương phải tính toán cân đối diện tích xuống giống phù hợp lượng nước trong hồ đập và khuyến cáo sử dụng giống ngắn ngày, gieo sạ sớm hơn lúa đại trà (trước 10/12/2021). Riêng một số diện tích lúa sản xuất 3 vụ tại Lâm Đồng bố trí gieo sạ từ ngày 15/11 – 10/12/2021.
Cục Trồng trọt cũng lưu ý, do hiện tượng La Nina từ khoảng tháng 10/2021 và duy trì cường độ yếu cho đến hết năm 2021 với xác suất 70%. Mật độ bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông trong những tháng cuối năm nhiều hơn trung bình nhiều năm và tổng lượng mưa ở khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên trong những tháng cuối năm ở mức cao hơn đến xấp xỉ trung bình nhiều năm nên việc gieo sạ các trà lúa sớm cần cập nhật thường xuyên tin khí hậu, thời tiết để việc gieo sạ được đảm bảo an toàn, tránh trường hợp do mưa lũ gây thiệt hại phải gieo sạ đi, gieo sạ lại nhiều lần và mất giống trong quá trình ngâm ủ không gieo sạ được.
Bên cạnh đó, về cơ cấu giống, Cục Trồng trọt khuyến cáo, đẩy mạnh sử dụng cấp giống xác nhận, giống ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng khá, cứng cây, chống đổ ngã, chống chịu khô hạn tốt. Vùng có nguy cơ thiếu nước, bố trí giống có thời gian sinh trưởng ngắn. Căn cứ tình hình từng địa phương cần khuyến cáo cơ cấu giống lúa phù hợp. Trong đó, với các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, giống chủ lực gồm: HT1, OM4900, Thiên ưu 8, DV108, TBR36,… Tại các tỉnh Tây Nguyên, giống chủ lực: HT1, VND95-20, ML48, OM4900, OM6162, OM5451, IR64,…
Ngoài ra, để vụ Đông Xuân đạt kết quả cao, Cục Trồng trọt đề nghị, bên cạnh yếu tố thời vụ và cơ cấu giống, các địa phương cần tập trung chỉ đạo gói kỹ thuật“1 phải, 5 giảm” đồng bộ. Tăng cường bón lót phân hữu cơ; sử dụng các dạng phân ure chậm tan để chống thất thoát đạm. Gieo sạ thưa hợp lý, trong đó, lúa thuần gieo từ 80- 100 kg/ha, lúa lai từ 40-50 kg/ha; tranh thủ nguồn nước tưới đủ cho 3 lần bón phân và thời kỳ trỗ bông.
Đi cùng với đó, cần nạo vét các kênh mương, bờ vùng, bờ thửa; gia cố các bờ đập, tiến hành kiểm tra và sửa chữa, tu bổ các công trình thuỷ lợi. Tổ chức quản lý chặt chẽ nguồn nước, vận hành hợp lý các công trình, điều tiết nước theo từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu cây trồng. Bố trí diện tích sản xuất không vượt quá năng lực phục vụ của công trình thủy lợi, chuyển đổi mùa vụ và cây trồng tại những nơi có khả năng thiếu nước. Xây dựng, bổ sung, cập nhật phương án phòng chống hạn, phòng chống lũ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó cần lưu ý việc bố trí kinh phí và dự phòng giống cho sản xuất khi có thiên tai. Thường xuyên thông báo tình hình thời tiết, nguồn nước để điều chỉnh việc cấp thoát nước cho phù hợp với sản xuất./.


