Gỡ "nút thắt" cho ngành hàng tôm để tăng tốc trong năm 2022
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: B.T) |
Còn nhiều thách thức cho ngành hàng tôm
Theo Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), về kết quả sản xuất tôm, lũy kế đến hết tháng 11 năm 2021, sản lượng tôm giống ước đạt 144,5 tỷ con (bằng 111,2% so với cùng kỳ năm 2020). Bên cạnh đó, sản lượng tôm nuôi 11 tháng năm 2021 đạt 902,7 nghìn tấn (tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2020); trong đó, tôm sú 255,2 nghìn tấn, tôm thẻ chân trắng 597,5 nghìn tấn và tôm khác. Ước sản lượng tôm nuôi năm 2021 đạt 970 nghìn tấn (bằng 104,3% so với năm 2020), trong đó, tôm sú 277,5 nghìn tấn, tôm thẻ chân trắng 642,5 nghìn tấn, còn lại là tôm khác.
Kim ngạch xuất khẩu tôm 10 tháng năm 2021 đạt 3,2 tỷ USD. Ước kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2021 đạt 3,8 tỷ USD (tăng 2,7% so với năm 2020).
Bên cạnh những kết quả đạt được, theo đánh giá của Tổng cục Thủy sản, hiện nay, ngành hàng tôm vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể, về tôm giống, tôm bố mẹ phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu và khai thác từ tự nhiên, trong nước mới cung cấp được một phần, chưa chủ động được trong sản xuất.
Cùng với đó, hiện, phần lớn hạ tầng vùng nuôi vẫn chưa được đảm bảo. Trong đó, hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản chủ yếu vẫn dùng chung với hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, không phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật, hệ thống cấp thoát nước không đảm bảo; các vùng nuôi thâm canh không có ao xử lý nước nên dễ xảy ra dịch bệnh.
Thứ nữa, công tác đăng ký nuôi tôm nước lợ còn chậm, tỷ lệ đăng ký thấp dẫn đến khó khăn trong truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Tương tự, công tác triển khai đăng ký cấp giấy xác nhận (mã số) cơ sở nuôi tôm nước lợ (tôm sú, tôm thẻ chân trắng) còn chậm.
Đáng chú ý là những thách thức mới về xuất khẩu gồm: sự thay đổi về quy định kiểm dịch đối với sản phẩm nhập khẩu ở nhiều quốc gia, cảnh báo về an toàn thực phẩm,... Cụ thể, một số thị trường nhập khẩu chính thủy sản của Việt Nam đã có những thay đổi trong chứng nhận an toàn thực phẩm như Hàn Quốc, sản phẩm tôm phải đáp ứng quy định về xử lý nhiệt (tôm nấu chín) mới được miễn kiểm dịch. Tuy nhiên, thời gian xử lý nhiệt theo quy định của Hàn Quốc dài, ảnh hưởng không nhỏ đến màu sắc, mùi vị… của sản phẩm. Thị trường Brazil quy định chế độ xử lý nhiệt khắt khe hơn rất nhiều so với hướng dẫn của Tổ chức Thú y thế giới.
Mặt khác, theo bà Lê Hằng - Phó Giám đốc Trung tâm Ðào tạo và Xúc tiến thương mại VASEP, hiện nay, giá thành sản xuất tôm của Việt Nam vẫn cao hơn so với các nước đối thủ trên thị trường thế giới. Đồng thời, điều đáng quan tâm hiện nay, đó là có nguy cơ mất thị phần xuất khẩu tôm tại các thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU bởi Ấn Độ và Ecuador. Nguyên nhân do hiện mục tiêu thị trường của các nước này đã chuyển từ Trung Quốc sang các thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU. Do đó, cần tính đến việc cạnh tranh cao hơn so với Ấn Độ và Ecuador về tôm tại các thị trường này.
Ngoài ra, tình hình dịch COVID-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp, hệ lụy là thiếu nhân công, giá vật tư tăng cao, nguy cơ đứt gãy chuỗi sản xuất vẫn tồn tại.
Gỡ "nút thắt" để tăng tốc trong năm 2022
Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2022, phấn đấu, diện tích nuôi tôm đạt 740.000-745.000ha (tôm sú 630.000ha, tôm thẻ 115.000ha); sản lượng tôm các loại 980 nghìn tấn, trong đó tôm sú 280 nghìn tấn, tôm thẻ chân trắng 650 nghìn tấn, còn lại là tôm khác. Kim ngạch xuất khẩu đạt 3,9 tỷ USD, tăng 2,63% so với năm 2021.
Để ngành tôm đạt được các mục tiêu đề ra, theo ông Quảng Trọng Thao – Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, Bộ NN&PTNT nên tổ chức hội nghị đánh giá quy chế phối hợp trong cung ứng tiêu thụ giống tôm, để có sự phối hợp, kiểm soát được chất lượng giống từ người nuôi. Nếu bỏ khâu này thì giống không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng sẽ xâm nhập vào vùng nuôi sẽ làm cho dịch bệnh trên tôm bùng phát. Ngoài ra, việc thông tin thị trường dự báo cũng phải kịp thời để địa phương nắm bắt và tổ chức tốt trong việc sản xuất.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Công Cẩn – Phó Tổng Giám đốc kỹ thuật Tập đoàn Việt – Úc cho rằng, Bộ NN&PTNT, doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ để đưa ra những chương trình hành động về công nghệ số để nâng cao thương hiệu, nâng tầm tôm Việt. Đây là nhiệm vụ lớn cần có sự phối hợp chặt chẽ và mang tính thiết thực. Đồng thời, Bộ NN&PTNT cần đầu tư mạnh dạn hơn về cơ sở hạ tầng, giúp cho sản xuất tôm ổn định, giảm giá thành; hỗ trợ cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tạo ra sản lượng và sản phẩm có chất lượng ổn định.
Theo ông Võ Quan Huy – Chủ tịch hiệp hội tôm Mỹ Thanh (Sóc Trăng), cần chú ý về công tác kỹ thuật trong sản xuất tôm, nhất là các viện nghiên cứu cùng với Tổng cục thủy sản làm sao phát triển được kỹ thuật nuôi tôm dùng bằng app (ứng dụng) thông minh, để từ đây, người nuôi dễ dàng đưa ra khó khăn đến các viện, trường, đơn vị chuyên ngành của Bộ, từ đó dễ dàng giải đáp những thắc mắc của người nuôi.
Cũng theo ông Võ Quan Huy, tới đây, với tác động của xâm nhập mặn, diện tích nuôi tôm khả năng ngày càng lớn, do vậy, cần có giải pháp về môi trường, xử lý nước thải trong nuôi tôm, để làm sao nước thải nuôi tôm trở thành nước tái sinh. Đây là điều kiện rất quan trọng.
Ngoài ra, hiện nay, giá vật tư đầu vào cao, do đó, để hạ giá thành sản xuất, cần giảm bớt khâu trung gian về logistics; hình thành các mô hình liên kết, tổ hợp tác, hợp tác xã để cùng mua một lần được nhiều vật tư nhằm góp phần giảm giá mua, đồng thời, các Sở, ngành địa phương cần làm sao thúc đẩy sự phát triển của các liên kết này.
Để thực hiện mục tiêu trong năm 2022, Tổng cục Thủy sản cho biết, sẽ tổ chức liên kết giữa các địa phương nuôi tôm; thực hiện đồng bộ các giải pháp để vừa phát triển sản xuất nuôi tôm, vừa ứng phó có hiệu quả với dịch COVID-19. Xây dựng kịch bản sản xuất tôm nước lợ trong điều kiện COVID-19, đảm bảo không bị động trước biến động của dịch bệnh.
Bên cạnh đó, tập trung hướng dẫn người nuôi về kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến, phù hợp, hiệu quả trong bối cảnh ảnh hưởng của COVID-19. Phát triển nuôi tôm và các khâu trong chuỗi sản xuất tôm theo hướng công nghệ cao để giảm lao động trực tiếp, hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Tích cực phối hợp xử lý, tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, phát triển thị trường tiêu thụ cho sản phẩm tôm Việt Nam.
Tổng cục Thủy sản đề nghị các Hội, Hiệp hội, vận động, tuyên truyền các hội viên thực hiện nghiêm các quy định tại Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn; tích cực áp dụng công nghệ mới để giảm giá thành sản xuất. Đẩy mạnh liên kết sản xuất, nhân rộng các mô hình, chuỗi sản xuất hiệu quả; giữ vững và phát triển thị trường đầu ra, đấu tranh với các rào cản kỹ thuật.
Với các địa phương, cần tổ chức liên kết giữa các địa phương tham gia chuỗi tôm, đảm bảo chuỗi sản xuất tôm vận hành liên hoàn, thích ứng với điều kiện dịch bệnh COVID-19. Kịp thời xử lý các tình huống phát sinh do dịch bệnh gây ra; thực hiện có hiệu quả công tác quan trắc, cảnh báo môi trường để kịp thời khuyến cáo, cảnh báo cho người nuôi; hướng dẫn các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt các giải pháp kỹ thuật để nuôi tôm hiệu quả, giảm thiểu tối đa thiệt hại cho người nuôi.
Ngoài ra, tăng cường thông tin, tuyên truyền, chuyển giao khoa học kỹ thuật để nhân rộng các mô hình nuôi 2, 3 giai đoạn, nuôi sử dụng chế phẩm sinh học, nuôi tuần hoàn khép kín, nuôi tôm an toàn sinh học, nuôi công nghệ cao... và các mô hình liên kết sản xuất hiệu quả giúp người nuôi, doanh nghiệp giảm thiệt hại và chủ động sản xuất.
Với các doanh nghiệp, người nuôi tôm, Tổng cục Thủy sản đề nghị cần tăng cường hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi để giảm khâu trung gian, giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm; áp dụng các hình thức nuôi có chứng nhận như: VietGAP, GlobalGAP, ASC,… để nâng cao giá trị sản phẩm. Đồng thời, đẩy mạnh xúc tiến thương mại đối với tiêu thụ nội địa và các thị trường mới. Tuân thủ các quy định về sử dụng chất cấm, thuốc, hóa chất trong nuôi tôm; nâng cao chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc./.


