15/04/2026
x
+
aa
-

Hoàn thiện chính sách của Đảng, Nhà nước trong phát triển công tác xã hội lĩnh vực tư pháp

(ĐCSVN)- Công tác xã hội là một khoa học, một nghề chuyên môn có tính chuyên nghiệp cao, đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay. Việt Nam cũng đã vận dụng và triển khai công tác xã hội trên nhiều lĩnh vực. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, pháp luật hỗ trợ cho sự phát triển công tác xã hội để góp phần giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng phức tạp. Trước nhu cầu ngày càng cao đối với đất nước và hội nhập quốc tế, đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác xã hội lĩnh vực tư pháp góp phần thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
 PGS.TS Nguyễn An Lịch, Viện trưởng Viện An sinh xã hội và Phát triển cộng đồng, Phó Chủ tịch Hội Triết học Việt Nam tham luận tại Hội thảo. 

Mở đầu:

Trước khi công tác xã hội ra đời từ những năm 500 - 700 – 1000 - 1100, trên thế giới đã xuất hiện nhiều tổ chức từ thiện để cứu trợ cấp bách những cá nhân, gia đình rủi ro, nghèo đói, như “Trại trẻ mồ côi” ở Italia (năm 787), bệnh viện người nghèo ở Anh (1084), Luật người nghèo 1601 (Elizabeth). Việt Nam có truyền thống lâu đời “lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”, đã xuất hiện nhiều tổ chức từ thiện... Luật “Hồng Đức” có nhiều điều quy định bảo vệ trẻ mồ côi, người nghèo.

Các tổ chức từ thiện là cơ sở thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của công tác xã hội. Nhưng công tác xã hội khác hoàn toàn với hoạt động từ thiện... Nó là một khoa học, một nghề chuyên môn đã ra đời hàng trăm năm nay.

Công tác xã hội thế giới đã phát triển nhanh và ngày càng chuyên sâu trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội tại các quốc gia - toàn cầu hóa sâu rộng trên khắp thế giới, cách mạng công nghiệp 4.0. Nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, môi trường, dịch bệnh đã và đang tạo nên nhiều áp lực cho cuộc sống của con người trên trái đất. Công tác xã hội thế giới đang đứng trước nhiều thách thức to lớn. Các Đại hội công tác xã hội thế giới gần đây đã đưa ra nhiều giải pháp để bảo vệ cuộc sống của con người, bảo vệ quyền con người đang bị xâm phạm, nhất là những con người thuộc các nhóm yếu thế. Hệ thống luật pháp về công tác xã hội trên thế giới cũng có nhiều bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn toàn cầu.

Việt Nam, trong quá trình hội nhập đã không ngừng phát triển nhanh ngành công tác xã hội (CTXH) nhưng đồng thời cũng đang đặt ra nhiều vấn đề nổi cộm đòi hỏi ngành CTXH cần có những đột phá để đáp ứng nhu cầu của đất nước, nhất là trong lĩnh vực tư pháp.

I. Vai trò của CTXH trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế:

Thực tiễn phát triển của CTXH thế giới đã chứng minh rằng: CTXH thực sự là một khoa học, một nghề chuyên môn có tính chuyên nghiệp cao, đã góp phần nâng cao năng lực của con người, của cộng đồng, làm thay đổi và phát triển xã hội bền vững. Nó là một khoa học, có cả một hệ thống lý thuyết, quy luật và phương pháp đặc thù riêng biệt. Đội ngũ các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các chuyên gia về CTXH ngày càng tăng về số lượng và chất lượng tại nhiều quốc gia.

Với tư cách là một nghề có tính chuyên nghiệp cao, CTXH thể hiện đầy đủ các kiến thức, kỹ năng chuyên sâu và giá trị trong quá trình phát hiện, can thiệp, giải quyết các vấn đề xã hội đang cản trở sự phát triển khả năng của con người và sự phát triển xã hội.

Với tính chất khoa học và tính chất nghề nghiệp, CTXH đã góp phần to lớn trong quá trình giải phóng con người, giải phóng mọi sự áp bức, bất công và thúc đẩy sự phát triển xã hội.

Nhưng tại sao trong nhận thức và hành động, hoạt động thực tiễn của ngành CTXH lại chứa đựng khó khăn, phức tạp?

GS. Lena Dominelli, nguyên Chủ tịch Hiệp Hội các trường CTXH Thế giới đã nói rằng: “CTXH là một nghề rắc rối và gây rắc rối. Vai trò và vị trí của nó trong bầu trời nghề nghiệp ở thế kỷ 21 đang là một vấn đề nóng bỏng gây nhiều tranh cãi”.

Và bà nói tiếp: “Tôi xem xét CTXH là một nghệ thuật của sự có thể vừa là khoa học của việc tạo ra một tương lai tốt đẹp hơn bằng việc dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm, kinh nghiêm và các trải nghiệm thực tiễn để đánh giá một cách phù hợp và  khẩn cấp đối với các vấn đề xã hội đang bao vây thế giới này ở các mức độ địa phương, quốc gia và xuyên quốc gia”.

CTXH không những khó khăn và “rắc rối” khi diễn ra ở Châu Âu, còn khó khăn hơn nhiều khi vận dụng vào châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng. Bởi vì rằng, CTXH luôn luôn gắn liền với môi trường văn hóa, nhất là các xã hội đa văn hóa, tạo cơ sở cho các quan điểm, các phương pháp tiếp cận, phương pháp can thiệp trị liệu khác nhau.

Văn hóa châu Âu khác với văn hóa châu Á. Ngay châu Á, mỗi  quốc gia cũng có những mô hình văn hóa khác nhau. Đối với Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa. Không những thế, mỗi vùng, miền cũng có nhiều nét văn hóa khác nhau. Điều đó đặt ra cách nhìn nhận, cách vận dụng chính sách, pháp luật về CTXH cần bám sát các mô hình văn hóa địa phương mới có hiệu quả thiết thực trong quá trình trị liệu, giải quyết vấn đề.

CTXH  còn là một khoa học liên ngành, liên quan tới nhiều ngành khoa học khác nhau, cả khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học y tế, khoa học về tội phạm và pháp luật.

Tính liên ngành của CTXH liên quan đến tính đa dạng của khách hàng CTXH. Khách hàng của CTXH gồm nhiều đối tượng, nhiều thành phần khác nhau, như: Nhóm xã hội yếu thế, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người chưa thành niên phạm tội, sức khỏe tâm thần, xâm hại tình dục, bạo lực gia đình, người già, nghèo đói, buôn bán người, người bị nhiễm HIV/AIDS v.v....

Tính đa dạng phức tạp của khách hàng CTXH đặt ra sự liên kết giữa CTXH với các ngành khoa học khác ngày càng phong phú sâu sắc. Đồng thời cũng đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao của ngành CTXH trong quá trình vận dụng chính sách và luật pháp trong việc can thiệp phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

Mặc dù CTXH có nhiều đặc tính phức tạp, nhưng CTXH cũng đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm do sự hỗ trợ của Hội Chữ thập đỏ và Unief. Năm 1942, Trường Cán sự xã hội Caritas đã được thành lập tại Sài Gòn, sau đó trường CTXH quốc gia ra đời đào tạo cán sự xã hội chuyên nghiệp (2 năm/ một khóa).

Sau khi thống nhất đất nước và nhất là từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới đất nước, CTXH Việt Nam đã phát triển nhanh. Được sự hỗ trợ của Unicef, GS. Romeo Riguietta Chủ tịch Hiệp Hội các Trường CTXH Châu Á Thái Bình Dương sang cố vấn xây dựng chương trình khung ngành CTXH tại Việt Nam, năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông qua chương trình thí điểm hệ đại học và cao đẳng về CTXH, đến  tháng 9 năm 2004 thì công bố mã ngành đào tạo chính thức ngành CTXH. Đây là cơ sở pháp lý đào tạo cán bộ ngành CTXH. Đến 25/3/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/QĐ - TTg phê duyệt “Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 -2020”. Ngày 22/01/2021, Chính phủ ban hành Quyết định số 112-QĐ/TTg phê duyệt

“Chương trình phát triển CTXH giai đoạn 2021 – 2030”. Như vậy, CTXH Việt Nam đã có cơ sở pháp lý về đào tạo và phát triển nghề CTXH.

Đến nay, đã có hơn 50 cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng, 7 cơ sở đào tạo sau đại học về CTXH. Các tỉnh, thành phố cũng đã thành lập các Trung tâm dịch vụ CTXH, các mạng lưới, công tác viên CTXH. Nhiều trường phổ thông, nhiều bệnh viện, cơ sở y tế đã có các phòng, ban CTXH hoạt động theo yêu cầu của Đề án 32 và Chương trình 112. CTXH Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực và phát huy vai trò của mình trong sự phát triển đất nước.

Tuy nhiên so với nhu cầu của thực tiễn xã hội, CTXH còn nhiều thiết sót, bất cập. Chất lượng đào tạo cán bộ và nhân viên CTXH còn thấp, nhiều giảng viên giảng dạy về CTXH chưa được đào tạo về CTXH, kể cả giảng viên hướng dẫn cao học và nghiên cứu sinh ngành CTXH cũng vậy.

Nhiều trung tâm dịch vụ CTXH thực hiện chưa tốt các chức năng của mình. CTXH cũng chưa phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo, tích cực trong phòng chống đại dịch COVID-19, bão lũ và các vấn đề xã hội nảy sinh trong thời gian qua.

II. Chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong CTXH lĩnh vực tư pháp:

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đề ra chính sách và pháp luật phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.

1. Hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Song song với phát triển kinh tế phải đảm bảo sự tiến bộ và công bằng xã hội.

Chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách an sinh xã hội và trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, đã góp phần ổn định xã hội, công bằng xã hội. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020 cũng đã nhấn mạnh toàn diện hơn các chính sách xã hội. Vừa qua, đã có cuộc hội thảo tổng kết về vấn đề này. Các chính sách xã hội đã tạo cơ sở thuận lợi cho sự hoạt động của ngành CTXH.

2. Cùng với hệ thống chính sách xã hội liên tục được bổ sung hoàn chỉnh, Đảng, Nhà nước ta cũng đã ban hành hệ thống pháp luật khá phong phú, tạo cơ sở cho sự hoạt động và phát triển sâu rộng CTXH trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống, pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều bộ luật dân sự, hình sự, pháp lệnh, nghị định, quyết định của cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cho sự phát triển CTXH. Công ước về quyền trẻ em, sau này là Luật Trẻ em, rồi Luật Người cao tuổi, Luật Phòng chống bạo lực gia đình... rất phù hợp với nội dung hoạt động của CTXH.

Gần đây, tại Đại hội XIII của Đảng, mục VIII nói về Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, Văn kiện đã nhấn mạnh: “Quan tâm lĩnh vực CTXH, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”(1).

Lần đầu tiên, khái niệm CTXH được nêu trong văn kiện Đại hội Đảng. Điều này có ý nghĩa quan trọng, yêu cầu toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cần quan tâm đến lĩnh vực CTXH để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Để thực hiện vấn đề này, nhằm biến quan điểm của Đảng thành hiện thực trong đời sống xã hội, cần có cơ chế, giải pháp  hữu hiệu.

Trước nhu cầu của sự đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trước sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức, trước sự “bùng nổ” các vấn đề xã hội đương đại trên toàn cầu và trong nước, đồng thời để biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực sinh động, CTXH cần có bước đột phá cơ bản về tổ chức, về chất lượng nguồn nhân lực, về luật pháp và chính sách phù hợp.

III. Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật CTXH trong lĩnh vực tư pháp:

1. Mọi chính sách, pháp luật về CTXH đều xuất phát từ mục đích vì con người: Vì con người là giá trị cao nhất của CTXH.  Mọi chính sách, pháp luật CTXH không mang lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống con người đều vô nghĩa. Nâng cao chất lượng cuộc sống con người, nâng cao khả năng phát triển con người và phát triển xã hội là thước đo kết quả của CTXH.

Ví dụ: Quyền trẻ em (Việt Nam phê chuẩn 20/02/1990) (Luật trẻ em 2016). Ra đời cách đây đã lâu, vậy đến nay, hiệu quả thực hiện quyền thế nào? Hiện nay, còn bao nhiêu trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật chưa thực hiện đầy đủ nhóm quyền cơ bản của mình? Hiện nay, cán bộ các cấp, các ngành đã hiểu đúng, đầy đủ về CTXH chưa?...

2. Để hoàn thiện chính sách, pháp luật CTXH trong lĩnh vực tư pháp cần quan tâm mô hình văn hóa Việt Nam, lưu ý các văn bản pháp luật đã ban hành có liên quan đến CTXH.

a. Những bài học quốc tế về chính sách, pháp luật CTXH trong lĩnh vực tư pháp.

Các nước trên thế giới cũng rất khác nhau khi ban hành các chính sách và pháp luật CTXH.

Tất cả hệ thống pháp luật về CTXH của các nước trên thế giới đều có điểm giống nhau: Họ đều xác định rõ CTXH là gì? Vị trí vai trò, chức năng của CTXH trong xã hội. Đồng thời họ cũng làm rõ nhân viên CTXH là ai? Những tiêu chuẩn quy định hành nghề của nhân viên CTXH. CTXH thế giới còn quy định cả hệ thống đạo đức của nhân viên CTXH. Họ có cả chương trình đào tạo thống nhất trong toàn cầu; ví dụ: Chương trình đào tạo nhân viên CTXH với trẻ em là 24 tháng, với sức khỏe tâm thần cũng 24 tháng, nhưng công tác xã hội trường học có 12 tháng...

Sau khi tốt nghiệp cử nhân ngành CTXH phải học và thực hành thêm chương trình CTXH chuyên ngành như trên mới được cấp chứng chỉ hành nghề. Chứng chỉ hành nghề chỉ có giá trị 02 năm. Sau 02 năm phải sát hạch lại, chủ yếu là thực hành nghề nghiệp mới được cấp tiếp. CTXH trong bệnh viện quy định rất cụ thể chức năng của nhân viên CTXH chuyên nghiệp, quan hệ giữa nhân viên CTXH với bác sĩ chuyên khoa trong quá trình điều trị, chẩn đoán bệnh nhân, quan hệ của nhân viên CTXH với cộng đồng địa phương, với gia đình và với các tổ chức dịch vụ có liên quan đến bệnh nhân. CTXH trong tòa án, quy định rất cụ thể về chức năng của nhân viên CTXH trong từng lĩnh vực cụ thể như: Thẩm phán, xét xử phạm nhân... và khi phạm nhân hết hạn tù, quay về cộng đồng. Riêng Hoa Kỳ, thẩm định chương trình đào tạo CTXH rất công phu. Các trường CTXH phải đăng ký để Bang, Liên bang thẩm định; sau thời gian thẩm định (chất lượng chương trình, thực hành nghề nghiệp, chất lượng giảng viên chất lượng sản phẩm đầu ra....) mới cho phép đào tạo và được phép cấp bằng. Có những trường đào tạo cử nhân, thạc sĩ CTXH đã nhiều năm mà vẫn chưa được đào tạo nghiên cứu sinh (trường San José Calofornia...).

b. Thế giới có các hiệp hội nghề nghiệp CTXH rất chặt chẽ: Phổ biến là:

- Hiệp hội nhân viên CTXH chuyên nghiệp

- Hiệp hội nghề nghiệp CTXH

- Hiệp hội các Trường CTXH quốc tế, Châu Á Thái Bình Dương

- Hiệp hội An sinh xã hội quốc tế

Cứ hai năm một lần, thế giới lại tổ chức Đại hội CTXH nhằm đánh giá, bổ sung và đề ra phương hướng, chương trình hành động, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.

Một số đặc điểm trên đây của CTXH thế giới cần nghiên cứu chọn lọc, kế thừa, vận dụng vào Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh đặc điểm cụ thể của tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị với từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước.

3. Tạo một chuyển biến căn bản trong hệ thống chính sách, pháp luật CTXH trong lĩnh vực tư pháp tại Việt Nam:

Về vấn đề chuẩn bị cho việc xây dựng hệ thống pháp luật ngành CTXH, Vụ pháp chế - Bộ Lao động Thương binh xã hội đã có nhiều công lao chuẩn bị từ lâu và cũng đưa ra thảo luận nhiều lần. Unicef tại Việt Nam cũng đã hỗ trợ, một số chuyên gia cũng đã góp ý kiến. Qua đó, rút kinh nghiệm, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tham khảo việc xây dựng các bộ luật tại Việt Nam, hệ thống luật về CTXH tại Việt Nam cần khẩn trương được phê duyệt và công bố trong nước và quốc tế, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Qua kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, cần xây dựng Bộ Luật cơ bản cấp quốc gia về CTXH một cách hoàn chỉnh, kết hợp từng bước xây dựng luật chuyên ngành CTXH trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội và phù hợp với các đối tượng khách hàng khác nhau.

a. Trước hết, nên cân nhắc, tập trung xây dựng 3 bộ luật cơ bản:

1- Luật về Nghề CTXH Việt Nam.

2- Luật về Nhân viên CTXH chuyên nghiệp tại Việt Nam.

3- Luật về An ninh xã hội quốc gia (social security).

Đây là ba bộ luật cơ bản cấp quốc gia, nên vận dụng các tiêu chí quốc tế vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam (về kinh tế - xã hội, chính trị , văn hóa....). Ta hội nhập quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa nhưng ta có sự độc lập, tự chủ của mình.

Ba bộ luật cơ bản này sẽ tạo một hành lang pháp lý để giải quyết các vấn đề xã hội đang nảy sinh phức tạp, tạo nhiều áp lực trong đời sống của người dân.

- Bộ luật đầu tiên: Nghề CTXH Việt Nam sẽ làm rõ:

+ Thế nào là Nghề CTXH nói chung, Việt Nam nói riêng.

+ Quy định tiêu chí hành nghề CTXH.

+ Quy định chức danh người hành nghề CTXH, các thang, bậc trong nghề CTXH.

+ Quy định cơ sở có đủ tiêu chuẩn được đào tạo nghề CTXH theo từng chức danh.

+ Quy định chương trình đào tạo cho từng chuyên ngành CTXH (về việc này quốc tế đã quy định chung)

+ Quy định về cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho phép đào tạo nghề CTXH, giám sát đào tạo nghề CTXH, quy định rõ quy trình xét duyệt cấp phép đào tạo có thời hạn...

- Bộ luật thứ hai: Nhân viên CTXH chuyên nghiệp: quy định rõ:

+ Ai là nhân viên CTXH (qua đào tạo nghề, qua thực hành nghề, qua thời gian lao động theo nghề CTXH.

+ Được cấp chứng chỉ hành nghề CTXH (thời gian 2 năm).

+ Thang bảng lương cho từng thang bậc nghề CTXH.

+ Vai trò, nhiệm vụ cụ thể của nhân viên CTXH.

- Bộ luật thứ ba:  An ninh xã hội quốc gia (social security)

Chính sách về ASXH dã ban hành nhiều nhưng một bộ luật an sinh xã hội hoàn chỉnh mang cấp quốc gia chưa có, chưa xây dựng được sàn an sinh xã hội theo yêu cầu của thiên niên kỷ của LHQ. Cốt lõi của ASXH là quyền con người gắn với chủ quyền quốc gia.

Trên cơ sở ba bộ luật cơ bản chung cấp quốc gia sẽ từng bước xây dựng các luật chuyên ngành, ví dụ chuyên ngành CTXH với trẻ em, người cao tuổi, gia đình, cộng đồng, y tế, giáo dục, sức khỏe, tâm thần. Luật CTXH trong doanh nghiệp, trong trại giam, nhà trường, tòa án, trong các lực lượng vũ trang.v.v...

Các luật chuyên ngành CTXH sẽ gắn liền với các luật tương ứng cho từng đối tượng đã được ban hành.

b. Các bước xây dựng các bộ luật này:

- Cần có sự khảo sát công phu, nghiêm túc, khoa học về:

+ Trình độ phát triển về nghề CTXH tại Việt Nam hiện nay, trình độ và chất lượng đội ngũ giảng viên, nhân viên CTXH hiện nay.

+ Khảo sát nhu cầu thực tiễn xã hội, nhu cầu của các đối tượng (khách hàng) thụ hưởng kết quả của các luật; Làm rõ đối tượng thực thi pháp luật, đối tượng thụ hưởng của từng bộ luật CTXH.

- Cần có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành, các đơn vị liên quan để xây dựng luật có hiệu quả: Ví dụ: Luật CTXH liên quan đến bệnh viện, chăm sóc sức khỏe tâm thần cần phối hợp với y tế; liên quan đến trường học cần phối hợp với giáo dục; đến Tòa án, nhà tù cần phối hợp với Bộ Tư pháp v.v...

Song song với việc chuẩn bị ban hành luật về CTXH, cũng cần quan tâm đến một số vấn đề liên quan như: Giáo dục, dạy nghề, vấn đề tiền lương.

c. Trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề:

- Cần khảo sát, đánh giá lại các chương trình, phương pháp đào tạo về CTXH. Quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đào tạo về CTXH. Hơn 50 trường đào tạo về CTXH là quá nhiều về số lượng, trong khi đó, Singapore cả nước có một trường CTXH quốc gia, kiên quyết giải thể các cơ sở không đủ điều kiện đào tạo CTXH (đội ngũ giảng viên thiếu, yếu...). Kết quả đào tạo ra sẽ không có lợi cho xã hội, giống như trường y đào tạo bác sĩ không có chất lượng sẽ rất bất lợi cho phòng, khám chữa bệnh.

d. Cần điều chỉnh chính sách tiền lương và chỉ tiêu biên chế cho nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Tránh để một nhân viên không có kiến thức, kỹ năng CTXH phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau trong một xã, kiêm  luôn CTXH. Cần có chế độ cho cộng tác viên, mạng lưới CTXH.

đ. Trong khi chờ đợi sự ban hành luật về CTXH, cần ban hành Nghị định quy định về nghề CTXH.

Kết luận: Xây dựng các bộ luật về CTXH rất khó khăn và phức tạp, nhất là trong bối cảnh  toàn cầu hóa sâu rộng, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh đang tác động vào các quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam có nhiều thuận lợi, được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều đến lĩnh vực tư pháp. Các bộ luật của ngành CTXH Việt Nam ra đời, sẽ góp phần tích cực thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng ta do Đại hội XIII đề ra, làm phong phú thêm hệ thống tư pháp Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện những mong ước tốt đẹp của Đảng và Nhân dân ta, đó là sự mong ước “Một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người”, “sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo, và bất bình đẳng xã hội”, “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công”, “cá lớn nuốt cá bé, vì lợi ích vị kỷ của một số cá nhân và các phe nhóm”, “sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ  hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường”, sự mong ước “cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có” (2). Đó cũng chính là mục đích cao cả xuyên suốt quá trình hoạt động của ngành CTXH cũng như của các bộ luật về CTXH tại Việt Nam./.

Tài liệu tham khảo

A. Tiếng Việt:

1. Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG Hà Nội 2022.

2. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đại hội XIII . Tập I Nxb CTQG  Đại hội XIII, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia  Hà Nội, 2022

3. Quyết định số 32QĐ- TTg ngày 25/3/2010 của Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010- 2020”

4. Nghị quyết 15- NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020

5. Quyết định phê duyệt của Chính phủ về “Chương trình 112 phát triển nghề CTXH giai đoạn 2021- 2030

6. Quốc hội, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992

7. Quốc hội, Luật cư  trú 2007

8. Quốc hội, Luật dạy nghề, 2006

9. Quốc hội, Luật Thanh niên 2005

10. Công ước quốc tế về Quyền trẻ em 1997 - Nxb CTQG Hà Nội

11. Luật trẻ em 2016

12. Cán sự xã hội-Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam -Tháng 2/2004 (lưu bút)

13. Nguyễn An Lịch – Nhập môn CTXH – Nxb Lao động 2013

B. Tiếng nước ngoài

1. Lena Dominelli Social work Polity Press – Cambrigde

2. Maleolm Payne – Modern Soial work theory – Palgrave

3.Louise C Johson – Social work pratice


(1)  Văn kiện Đại hội, Đại  biểu Toàn quốc lần thứ XIII – Tập I. Nxb CTQG Sự Thật, Hà Nội 2021, tr. 148.

(2) Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật -  Hà Nôi, 2022, tr.21,22.

PGS.TS Nguyễn An Lịch, Viện trưởng Viện An sinh xã hội và Phát triển cộng đồng, Phó Chủ tịch Hội Triết học Việt Nam

Top