Hợp tác công tư giúp khai thông hỗ trợ của Mỹ đối với vấn đề da cam
Trong khi hợp tác để tìm kiếm hài cốt lính Mỹ và rà phá bom mìn đã được khởi động trước khi Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, thì chỉ đến năm 2006, Washington mới bắt đầu thừa nhận trách nhiệm đối với vấn đề Da cam. Chính sự hợp tác công tư đã giúp phá vỡ thế bế tắc trong vấn đề này và khai thông sự hỗ trợ của Mỹ. Giải quyết được vấn đề da cam thì có thể thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương Việt - Mỹ và nên là một vấn đề ưu tiên của Washington.
![]() |
| Các nhân viên cho vận hành xử lý nhiệt để xử lý đất nhiễm dioxin đã được đưa vào mố. Ảnh: TL |
Các bước tiến trong vấn đề da cam
Sau chuyến thăm Việt Nam năm 2006 của Tổng thống Mỹ George W. Bush, hai nước ra tuyên bố chung, trong đó Washington chính thức công nhận rằng cần phải giải quyết hậu quả của vấn đề da cam. Sáu tháng sau, Quốc hội Mỹ thông qua khoản tài trợ hàng năm đầu tiên cho việc tẩy độc dioxin ở Việt Nam. Tính đến năm 2021, số tiền này đã lên tới 381,4 triệu đô la Mỹ với 75% được dùng cho việc xử lý môi trường và 25% được dùng để hỗ trợ người khuyết tật.[1]
Bộ Ngoại giao Mỹ giao nhiệm vụ cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) quản lý các khoản tài trợ nói trên. USAID cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng Việt Nam trong việc làm sạch đất ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Dự án này đã hoàn thành vào năm 2017. Một dự án tương tự hiện đang được tiến hành tại căn cứ không quân Biên Hòa, là một điểm nóng dioxin lớn còn lại chưa được xử lý xong.
Washington cũng phân bổ nguồn quỹ riêng cho các chương trình hỗ trợ y tế và người khuyết tật vào năm 2011, với số tiền là 3 triệu đô la trong năm đầu và tăng dần lên trong những năm tiếp theo. Năm 2019, USAID và Bộ Quốc phòng Việt Nam đã ký Biên bản Ghi nhớ 5 năm dành 65 triệu đô la để giúp đỡ người khuyết tật.[2] Đạo luật Phân bổ Hợp nhất năm 2021 dành 14,5 triệu đô la cho mục tiêu này, hỗ trợ những người Việt Nam bị khuyết tật nặng ở 10 tỉnh bị phun rải hoá chất nặng nề nhất.[3]
Chìa khoá dẫn đến những bước tiến trên là nỗ lực của một mạng lưới tập hợp các tác nhân xuyên quốc gia, với vai trò dẫn dắt một phần của Quỹ Ford là một quỹ từ thiện lớn của Mỹ.
Năm 1994, Chính phủ Việt Nam đồng ý với đề xuất của Canada về việc đánh giá lượng dioxin tồn lưu tại các khu vực bị phun rải và giao nhiệm vụ này cho Ủy ban 10-80 (Uỷ ban Quốc gia điều tra hậu quả chiến tranh hoá học của Mỹ ở Việt Nam) của Bộ Y tế Việt Nam. Được chính phủ Canada tài trợ, Ủy ban 10-80 và Công ty TNHH Tư vấn Hatfield đã thực hiện nghiên cứu dài hạn toàn diện đầu tiên về tồn dư dioxin tại Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định dioxin vẫn còn tồn tại trong đất ở một căn cứ quân sự của Mỹ trước đây, gây ô nhiễm nguồn thức ăn và xâm nhập vào cơ thể của người dân sống ở khu vực này.[4] Đây là bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về mối đe dọa dioxin đang tiếp tục gây ra đối với sức khỏe cộng đồng. Phát hiện này tạo tiền đề cho “giả thuyết về điểm nóng dioxin." Giả thuyết cho rằng các căn cứ quân sự của Mỹ trước đây là những nơi có nhiều khả năng bị ô nhiễm nhất.
Tuy nhiên, chính phủ Canada đã từ chối tài trợ thêm cho các nghiên cứu về dioxin. Cũng trong bối cảnh đó, Mỹ và Việt Nam bất đồng trong cách thức hợp tác để thực hiện một nghiên cứu dịch tễ học về tác hại của dioxin.[5] Thay vào đó, Quỹ Ford là tác nhân thúc đẩy nghiên cứu quan trọng tiếp theo về dioxin. Vào năm 2002, Quỹ Ford đã cấp một khoản tài trợ cho Ủy ban 10-80 để kiểm chứng giả thuyết điểm nóng dioxin trên tất cả 2.735 căn cứ cũ của Mỹ ở Việt Nam. Nhờ có khoản tài trợ của Ford, Ủy ban 10-80 và Hatfield đã công bố một bản báo cáo khoa học vào năm 2006, chứng minh rằng dioxin tích tụ nhiều nhất tại ba căn cứ quân sự trước đây của Mỹ ở Phù Cát, Đà Nẵng và Biên Hòa.[6] Nghiên cứu này góp phần xác định mức độ hiểm họa môi trường từ dioxin và từ đó thúc đẩy thảo luận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về việc tẩy độc dioxin.
Theo lời mời của chính phủ Việt Nam, quỹ Ford đã tới Việt Nam trước đó một thập kỷ để hoạt động từ thiện trong một số lĩnh vực quan trọng. Tuy nhiên, Charles Bailey, Đại diện của Quỹ Ford tại Việt Nam (đồng tác giả của bài bình luận này), đã sớm nhận rằng ra các bước tiến để giải quyết vấn đề Da cam là tối quan trọng. Trên cơ sở đó, từ năm 2000 đến năm 2011, Ford đã phê duyệt gần một trăm khoản tài trợ với tổng trị giá 17 triệu đô la cho các bộ và trung tâm nghiên cứu của Việt Nam, các cơ quan của Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, người Mỹ gốc Việt và các tổ chức phi chính phủ khác của Mỹ làm về vấn đề da cam.[7] Cụ thể, Ford tài trợ các chương trình thí điểm nhằm phát triển các phương pháp hỗ trợ trực tiếp tốt nhất cho các nạn nhân Da cam, xác định vị trí các điểm nóng về dioxin, khởi động các dự án tẩy độc, và liên tục nêu vấn đề này tại Mỹ. Các sáng kiến của Ford và đối tác đã khơi dậy sự quan tâm của một số nhà lãnh đạo Mỹ, khuyến khích họ chuyển tiền cho USAID để sử dụng tại Việt Nam.
Năm 2007, Ford giúp thành lập mạng lưới ngoại giao kênh 2, Nhóm Đối thoại Việt - Mỹ về vấn đề Da cam/Dioxin.[8] Chủ tịch Quỹ Ford, Susan Berresford là người tập hợp các thành viên của nhóm, bao gồm các công dân nổi tiếng, các nhà khoa học, những người ủng hộ nạn nhân và các nhà hoạch định chính sách từ cả hai quốc gia. Năm 2010, nhóm công bố Kế hoạch hành động toàn diện 10 năm của mình. Kế hoạch đặt ra các mục tiêu và nêu chi tiết các bước cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, xử lý môi trường ô nhiễm dioxin, và kêu gọi 300 triệu đô la từ Mỹ cũng như các nhà tài trợ khác.[9] Năm 2019, viện trợ của Mỹ đã vượt qua mức 300 triệu đô la và nhiều mục tiêu khác cũng đã đạt được.
Các bước tiến về vấn đề da cam ở Việt Nam được biết đến chủ yếu dưới khía cạnh hợp tác ở cấp chính phủ, nhưng các tổ chức từ thiện như Quỹ Ford cũng có thể đóng vai trò tích cực. Có thể thấy, khi hợp tác giữa chính phủ với chính phủ đi vào bế tắc, Ford đóng vai trò là người hỗ trợ và xây dựng lòng tin bởi Quỹ là một tổ chức độc lập khỏi chính phủ, có nguồn lực cần thiết, và dám hành động.
Hợp tác công tư
Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự ủng hộ từ một số chính khách Mỹ. Đáng chú ý nhất là đóng góp của Thượng nghị sĩ Patrick Leahy của bang Vermont. Ông đã sử dụng bằng chứng từ các nghiên cứu về điểm nóng dioxin của Ủy ban 10-80 và Hatfield để thúc đẩy sự tham gia của Mỹ trong việc xử lý môi trường và viện trợ cho các nạn nhân da cam. Thâm niên lâu năm của Leahy tại Thượng viện Mỹ giúp ông chỉ đạo các sáng kiến này. Ông đã từng nói vào năm 2015 rằng Mỹ “có nghĩa vụ đạo đức đối với vấn đề [Da cam].”[10]
Tim Rieser, cố vấn chính sách đối ngoại của ông Leahy và Michael W. Marine, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2007, là những người dẫn đầu các nỗ lực thu xếp tài trợ ở đây. Sau khi tận mắt chứng kiến sự tàn phá của chất da cam tại Việt Nam và trò chuyện với các đại diện Việt Nam, họ quyết tâm thúc đẩy các hành động chung giữa hai nước hướng tới việc giảm thiểu tác hại từ dioxin và giúp đỡ những người Việt Nam bị ảnh hưởng.
Hỗ trợ của Mỹ cho các nạn nhân da cam đã không thể trở thành hiện thực nếu thiếu đi vai trò dẫn dắt của những chính khách này.
Trong khi đó, Charles Bailey[11] đã làm việc với Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng và các đồng nghiệp của ông, Tiến sĩ Lê Kế Sơn (Chánh văn phòng Ban Chỉ đạo 33- Bộ Tài Nguyên và Môi Trường), cũng như các ông Rieser, Marine, và các đại sứ Hoa Kỳ tiếp theo, và Nhóm Đối thoại để đảm bảo tiến triển được tiếp diễn. Tháng 7 năm nay, tại buổi ra mắt chương trình hợp tác tìm kiếm hài cốt liệt sỹ giữa Mỹ và Việt Nam, [12] Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đã gửi lời cảm ơn tới Quỹ Ford.[13] Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cũng bày tỏ sự cảm kích đối với “sự hỗ trợ thiết thực từ các tổ chức, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước” trong bức thư của ông gửi đến các nạn nhân da cam của Việt Nam nhân Ngày Vì nạn nhân Da cam.[14]
Các bước tiến tiếp theo
Tuy nhiên, vẫn còn các vấn đề chưa được giải quyết. Các hoạt động do USAID tài trợ còn nhiều hạn chế và không tiếp cận được tất cả những người có thể là nạn nhân trong hoặc ngoài các tỉnh ưu tiên. Nhiều nạn nhân và những người ủng hộ cảm thấy bất bình khi chính phủ Mỹ công nhận những căn bệnh liên quan đến dioxin mà các cựu chiến binh Hoa Kỳ mắc phải nhưng không có sự công nhận tương tự đối với người Việt Nam. Đặc biệt, vụ kiện gần đây chống lại các công ty Mỹ từng sản xuất chất độc da cam[15] là lời nhắc nhở rằng chúng ta cần phải quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu và mong mỏi của nạn nhân. Ngoài ra, hậu quả chất độc da cam ở Lào và Campuchia vẫn chưa được khắc phục.[16] Hợp tác Việt - Mỹ trong vấn đề này có thể là bài học cho những nỗ lực trong tương lai của Mỹ nhằm giúp hai nước này giảm nhẹ hậu quả dioxin.
Cũng như hai thập kỷ trước, sẽ vẫn có những vấn đề nhạy cảm mà tư duy một số quan chức Mỹ vẫn mặc cảm, chưa thể vượt qua một cách dễ dàng. Nhưng hiện nay hai bên có những động lực lớn hơn để xóa bỏ những rào cản để tiến tới quan hệ song phương gần gũi hơn. Một cách tiếp cận lấy nạn nhân làm trung tâm,[17] đòi hỏi Mỹ hỗ trợ trực tiếp các nạn nhân và chấp nhận hoàn cảnh của họ. Cách tiếp cận này sẽ không chỉ giải quyết vấn đề Da cam và giúp đem lại công lý cho các nạn nhân, mà còn có thể tăng cường sự tin cậy và hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
----------------
Đây là bản dịch tiếng Việt của bài bình luận “How Public-Private Cooperation Helped Unlock US Assistance on Agent Orange,” được đăng trên PacNet Commentary của Diễn đàn Thái Bình Dương (Pacific Forum), số 39, ngày 13 tháng 9 năm 2021. Xem bản gốc tại https://pacforum.org/publication/pacnet-39-how-public-private-cooperation-helped-unlock-us-assistance-on-agent-orange
[1] https://fas.org/sgp/crs/row/R44268.pdf
[2] https://www.usaid.gov/vietnam/press-releases/dec-5-2019-united-states-and-vietnam-strengthen-partnership-address-war-legacies
[3] https://www.congress.gov/116/bills/hr133/BILLS-116hr133enr.pdf
[4] https://www.hatfieldgroup.com/wp-content/uploads/2020/05/cida849-agent-orange-v1-report-main.pdf
[5] https://e.vnexpress.net/projects/vietnam-s-forgotten-agent-orange-victims-3619640/index.html
[6] https://www.hatfieldgroup.com/wp-content/uploads/2020/05/vn1071-final-ford-report-jan-2006.pdf
[7] Số liệu do tác giả Charles Bailey cung cấp
[8] https://www.aspeninstitute.org/programs/agent-orange-in-vietnam-program/the-u-s-vietnam-dialogue-group-on-agent-orang-and-dioxin/
[9] https://assets.aspeninstitute.org/wp-content/uploads/2016/06/USVietnamDialogueGroup-PlanofActionVN1.pdf
[10] https://www.leahy.senate.gov/press/senator-patrick-leahy-remarks-for-center-for-strategic-and-international-studies-addressing-the-legacy-of-agent-orange-in-vietnam
[11] https://www.aspeninstitute.org/programs/agent-orange-in-vietnam-program/
[12] https://vtv.vn/chinh-tri/hop-tac-viet-my-trong-tim-kiem-hai-cot-liet-sy-20210804202922687.htm
[13] https://youtu.be/gdsjAM1fdTc?t=845
[14]http://vava.org.vn/tin-tuc-su-kien/thu-cua-chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-gui-nan-nhan-va-gia-dinh-nan-nhan-chat-doc-da-cam-viet-nam-268.html
[15] https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Hanh-trinh-gian-truan-di-tim-cong-ly-cua-nguoi-phu-nu-goc-Viet-i605570/
[16] https://www.theatlantic.com/international/archive/2019/07/agent-orange-cambodia-laos-vietnam/591412/
[17] https://fulcrum.sg/agent-orange-vietnams-struggle-for-justice-continues/


