14/03/2026
x
+
aa
-

Kiên Giang: Sản xuất tôm nước lợ theo chuỗi liên kết

(ĐCSVN) - Nhằm đạt các mục tiêu về nuôi tôm nước lợ trong năm 2022, Kiên Giang sẽ đẩy mạnh phát triển hình thức sản xuất theo chuỗi liên kết từ sản phẩm vật tư đầu vào đến nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó, thực hiện tốt công tác dự báo tình hình và kết nối tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn.
 Ảnh minh họa (Nguồn: B.T)

Theo Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, năm 2021, nuôi tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả quan trọng. Cụ thể, diện tích thả nuôi tôm nước lợ đạt 137.415 ha, đạt 101,04% kế hoạch, tăng 2,37% so với cùng kỳ; sản lượng đạt 104.694 tấn, đạt 106,83% kế hoạch, tăng 13,19% so với cùng kỳ. Trong đó, tôm công nghiệp – bán công nghiệp với diện tích 3.856 ha, sản lượng 36.378 tấn. Tôm-lúa với diện tích thả nuôi 104.320 ha, sản lượng 54.961 tấn; tôm quảng canh cải tiến diện tích đạt 29.329 ha, sản lượng 13.355 tấn. Toàn tỉnh có 10 doanh nghiệp nuôi tôm công nghiệp với tổng diện tích thả nuôi 593 ha, sản lượng thu hoạch 9.952 tấn.

Nhìn chung, trong năm 2021, tình hình nuôi tôm nước lợ của tỉnh cơ bản ổn định, tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi được kiểm soát, mức thiệt hại thấp hơn so với cùng kỳ. Phần lớn diện tích thả nuôi tôm đều đạt năng suất theo kế hoạch đề ra.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang cho biết, trong năm 2021, nuôi tôm nước lợ của tỉnh cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của dịch COVID-19. Trong đó, có thể kể đến việc chuỗi cung ứng sản xuất bị gián đoạn, giá cước vận chuyển và giá cả vật tư đầu vào tăng cao, giá tôm nguyên liệu có thời điểm giảm mạnh đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất.

Đi cùng với đó, công tác quản lý chất lượng, giá cả vật tư đầu vào còn nhiều hạn chế; giống tôm nước lợ sản xuất tại chỗ cung cấp phục vụ người nuôi chưa đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, chưa hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất nuôi tôm nước lợ; công tác dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ. Ngoài ra, việc áp dụng, chứng nhận các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, ASC,... còn chậm; công tác cấp giấy xác nhận đối tượng thủy sản nuôi chủ lực còn nhiều vướng mắc, chậm tiến độ so với kế hoạch.

Theo Sở NN&PTNT Kiên Giang, trong năm 2022, địa phương xây dựng kế hoạch phát triển nuôi tôm nước lợ với tổng diện tích 140.630 ha, sản lượng 108.500 tấn. Trong đó, diện tích nuôi tôm công nghiệp – bán công nghiệp 4.200 ha, sản lượng 39.250 tấn; diện tích nuôi tôm-lúa 107.600 ha, sản lượng 58.000 tấn; diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến 28.830 ha, sản lượng 11.250 tấn.

Dự kiến năm 2022, tình hình dịch bệnh COVID-19 từng bước được kiểm soát, các hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản trở lại trạng thái bình thường mới, giá tôm nguyên liệu tăng, chuỗi cung ứng sản xuất thủy sản được phục hồi, thị trường tiêu thụ ổn định. Vì vậy, để khắc phục các khó khăn và phấn đấu đạt các chỉ tiêu đề ra, thời gian tới, Kiên Giang sẽ tập trung đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về cơ cấu mùa vụ, hướng dẫn quy trình sản xuất, thu hoạch, phòng chống và khắc phục dịch bệnh trên tôm nuôi. Bên cạnh đó, tập trung tháo gỡ, giải quyết những khó khăn vướng mắc trong nuôi tôm nước lợ; đẩy mạnh phát triển nuôi tôm công nghiệp, xử lý hiệu quả vấn đề môi trường và tình trạng thiếu nhân công lao động ở các doanh nghiệp khi hoạt động sản xuất bình trường trở lại.

Đặc biệt, địa phương sẽ đẩy mạnh phát triển hình thức sản xuất theo chuỗi liên kết từ sản phẩm vật tư đầu vào đến nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện tốt công tác dự báo tình hình sản xuất và kết nối tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn.

Cùng với các giải pháp trên, Kiên Giang sẽ tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nuôi tôm công nghiệp; khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn VietGAP và các tiêu chuẩn quốc tế (GlobalGAP, BAP, ASC,...) theo yêu cầu của thị trường; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy xác nhận đối tượng thủy sản nuôi chủ lực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm nuôi, vùng nuôi.

Ngoài ra, thời gian tới, Kiên Giang tập trung đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển nuôi tôm nước lợ thích ứng với biến đổi khí hậu và an toàn dịch bệnh. Triển khai có hiệu quả các chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là chính sách phát triển thủy sản ứng dụng công nghệ cao./.

BT

Other news

Chủ động đảm bảo cung cấp điện mùa khô năm 2026 
Thời điểm này, TP Cần Thơ cũng như nhiều tỉnh, thành phía Nam đang bước vào giai đoạn nắng nóng gay gắt của mùa khô, kèm theo những diễn biến thời tiết thất thường, kéo theo nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh dịch vụ tăng cao.
Căng thẳng Trung Đông: Doanh nghiệp Việt quản trị rủi ro thế nào khi xuất nhập khẩu? 
Giữa bối cảnh căng thẳng quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng các biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả để bảo vệ hoạt động xuất nhập khẩu và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Chị em chọn xe gì để vừa đẹp, vừa tự tin cầm lái? 
Từ thiết kế “chuẩn fashionista”, nội thất tiện nghi tới khả năng vận hành mạnh mẽ và chi phí sử dụng thấp, VinFast VF 7 là mẫu SUV điện được nhiều khách hàng ước ao, đặc biệt là chị em phụ nữ.
Tiếp tục chi mạnh quỹ bình ổn, xăng RON95 tăng giá nhẹ từ 22 giờ ngày 12/3 
Sau khi điều chỉnh, xăng E5RON92 không cao hơn 22.504 đồng/lít; xăng RON95-III không cao hơn 25.575 đồng/lít; dầu điêzen 0.05S không cao hơn 27.025 đồng/lít; dầu hỏa không cao hơn 26.932 đồng/lít; dầu madút 180CST 3.5S không cao hơn 18.661 đồng/kg.
Giải pháp tạo đột phá cho tăng trưởng khu vực I 
Năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) TP Cần Thơ đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế (GRDP) khu vực I tăng tối thiểu 4,33% trở lên. Để đạt mục tiêu đề ra, ngành Nông nghiệp thành phố xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng định hướng, tăng nhanh tỷ trọng giá trị cây trồng, vật nuôi, đây là cơ sở quan trọng để hoàn thành kế hoạch của năm nay.
Top