Nâng cao năng lực tiếp cận và quản lý đất sản xuất, đất rừng cho cộng đồng các dân tộc thiểu số

(Ảnh: Kiều Giang)
Phát biểu tại hội thảo, ông Binima Haile, quyền Giám đốc Quốc gia CARE Quốc tế tại Việt Nam, ông Thomas Anthony Corrie, Phó trưởng Ban Hợp tác Phát triển – Phái đoàn EU tại Việt Nam và bà Trần Thị Hòa, Giám đốc Trung tâm CIRUM đã giới thiệu về mục tiêu tổng thể cũng như nội dung cơ bản của dự án.
Theo đó, dự án sẽ góp phần bảo vệ và tăng cường tiếp cận, quản lý đất rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số. Dự án sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại khu vực miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, lưu ý đến tiếp cận thông tin và sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số đối với đất rừng cộng đồng. Kết quả triển khai dự án sẽ được chia sẻ, tham vấn với chính quyền và các nhà hoạch định chính sách trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng sắp tới.
Với tổng vốn hỗ trợ hơn 650.000 euro (tương đương với hơn 700.000 USD), CARE Quốc tế phối hợp với trung tâm CIRUM, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tiến hành dự án trong giai đoạn từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2018 tại sáu tỉnh: Lào Cai, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Kon Tum.
Trong khuôn khổ dự án, khoảng 8 triệu đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng hưởng lợi sau cùng của dự án thông qua quá trình tham vấn, sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng và các chính sách khác, cũng như các hoạt động thành công được nhân rộng của dự án. Đây chính là nhóm hộ nghèo, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tỷ lệ nghèo đói tại Việt Nam. Đời sống, sinh kế… của họ phụ thuộc lớn và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất rừng. Họ, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái, là những người thiếu sự đảm bảo về an ninh lương thực, thiếu các cơ hội phát triển kinh tế, sống ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, đối mặt với rào cản ngôn ngữ, trình độ giáo dục thấp và thường thiếu cơ hội tham gia trong tiến trình ra quyết định và quyết sách.
Tỷ lệ nghèo đói ở khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cao hơn tỷ lệ trung bình trên cả nước. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, một trong những nguyên nhân chính mà cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam khó có thể phát triển bền vững, hòa nhập, tỷ lệ nghèo cao là do thiếu đất sản xuất. Hơn 2/3 người dân tộc thiểu số có sinh kế phụ thuộc hoàn toàn vào đất nông nghiệp và đất rừng, sống dưới ngưỡng nghèo. Bên cạnh đó, họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do sức ép về dân số, tình trạng suy thoái rừng và giảm diện tích đất rừng bình quân đầu người, cũng như cạn kiệt về tài nguyên.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được cho là do công tác quản trị tài nguyên thiên nhiên chưa thật hiệu quả, đặc biệt trong quản trị rừng và đất rừng, nhiều phương thức quản lý rừng cộng đồng dựa vào luật tục hiệu quả chưa được nghiên cứu và đánh giá.
Từ thực tế nói trên, việc vận động chính sách để hướng tới một môi trường chính sách thuận lợi về quản trị rừng trở nên hết sức quan trọng. Một môi trường chính sách thuận lợi sẽ đảm bảo đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận và quản lý đất rừng cộng đồng một cách hiệu quả, việc quản lý và sử dụng đất rừng cộng đồng do vậy sẽ được bảo vệ và phát triển bền vững./.

