Nước về - ấm áp tình quân dân
Nước về - ấm áp tình quân dân
![]() |
| Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân mang nước ngọt đến với người dân Bến Tre . |
Suốt trong những đợt cao điểm hạn mặn vừa qua, lực lượng quân đội của Quân Khu 9, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Công an, Đoàn viên, Thanh niên các tỉnh… đã kịp thời mang nước ngọt miễn phí đến với bà con nông dân nơi hạn mặn, góp phần vơi đi nỗi khó khăn do thiếu nước ngọt của đồng bào vùng sâu, vùng xa. Đại tá Hoàng Minh Dũng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân cho biết, từ Tết Nguyên đán Canh Tý đến nay, đơn vị đã sử dụng 3 tàu chở nước chuyên dùng là tàu 935, 936, 937, tổ chức vận chuyển hàng chục chuyến nước ngọt đến cung cấp cho 9 huyện của 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang với số lượng gần 10 triệu lít nước sinh hoạt.
Bên cạnh đó, Vùng 2 Hải quân đã tặng 20 bồn chứa nước loại 500 lít cho các gia đình chính sách, hộ nghèo tại các địa phương nơi cấp nước để bà con có dụng cụ dự trữ nước sinh hoạt. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ hải quân còn tổ chức phát tờ rơi, cấp khẩu trang miễn phí cho nhân dân phòng chống dịch COVID-19 tại các khu vực cấp nước.
Ở Bến Tre, có nhiều tấm lòng vàng của tập thể, cá nhân, họ đã tự nguyện chia sẻ nước ngọt giúp người dân vượt qua khó khăn. Đó là Trung úy quân nhân chuyên nghiệp Trần Văn Hồng, nhân viên lái xe Ban Chỉ huy quân sự huyện Giồng Trôm. Hơn 2 tháng qua, gia đình anh Hồng đã chủ động bơm nước từ 2 giếng của gia đình để chia sẻ nước ngọt cho bà con xung quanh khu vực đóng quân thuộc ấp Kinh Ngoài, xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm. Hằng ngày, sau giờ làm việc tại cơ quan, anh Hồng đã tranh thủ giờ nghỉ trưa bơm nước vào bồn chứa hệ thống lọc kịp chiều bà con đến lấy nước. Thậm chí nhiều ngày liền, anh còn thức đến hơn 22 giờ bơm nước để sáng hôm sau có nước ngọt cho bà con lấy sử dụng. Trung bình gia đình anh Hồng chia sẻ cho bà con hơn 10.000 lít/ngày.
Hay như bà Nguyễn Thị Hưỡn, 76 tuổi, ở xã Phú Hưng, TP Bến Tre sẵn sàng cấp nước miễn phí cho bà con trong vùng. Bà Hưỡn cho biết khoảng 20 năm về trước, gia đình bà đào được giếng tầng nông với độ sâu khoảng 8 m để lấy nước ngọt cho gia đình sử dụng. Giếng nhà bà đã đào trúng mạch nước ngọt quanh năm và không bị nhiễm phèn, mặn. Theo bà Hưỡn, từ năm 2016, khi nước mặn xâm nhập khốc liệt, người dân không có nước ngọt sử dụng nên bà đã cho nước ngọt miễn phí.
Năm nay, nước do các nhà máy cung ứng, nước sông đều bị nhiễm mặn nên bà Huỡn lại tiếp tục bơm nước cho người dân mang về sử dụng miễn phí. Mỗi ngày từ sáng sớm đến chiều tối có hàng chục người, có ngày hơn trăm người mang can nhựa, bồn chứa đến đây chở nước ngọt miễn phí về sử dụng. Hiện mỗi ngày giếng nước ngọt của gia đình bà Hưỡn có thể thu được gần 30 khối nước ngọt. Bà phải cử người túc trực bên máy bơm để khoảng 15 phút khi giếng có nước là bơm lên bồn chứa cho người dân đến lấy. Trước nghĩa cử cao đẹp của bà Hưỡn, mới đây lãnh đạo tỉnh Bến Tre đã đến nhà bà Hưỡn trao thư khen ngợi, biểu dương tinh thần san sẻ nguồn nước ngọt với người dân ngay lúc đang mùa hạn mặn gay gắt.
Còn tại tỉnh Tiền Giang, từ ngày 12/3 đến nay, địa phương này đã vận chuyển nước ngọt miễn phí cứu khẩn cấp trên 36.000 ha sầu riêng và các loại cây ăn trái khác ở các huyện, thị xã phía Tây của tỉnh, trong đó cung cấp khẩn cấp khoảng 1,37 triệu m3 nước ngọt cho hơn 13.044 ha sầu riêng.
Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang Nguyễn Văn Mẫn, thời gian hỗ trợ được thực hiện từ ngày 12/3 đến 30/4/2020. Đây cũng là tỉnh đi đầu trong việc cấp nước ngọt miễn phí cho người dân vùng trồng cây ăn trái. Việc tỉnh Tiền Giang thực hiện cấp nước ngọt cho người dân vùng trồng sầu riêng thời điểm này đã làm mát lòng người dân, cứu cho vùng sầu riêng đặc sản của địa phương này qua “cơn khát”. Những giọt nước nghĩa tình đã phần nào kịp thời “giải khát” cho vựa cây trái Đồng bằng sông Cửu Long, giảm thiểu thiệt hại cho các nhà vườn nơi đây, đồng thời giúp cho bà con nông dân có nước ngọt sinh hoạt, cầm cự được đến mùa mưa đang sắp tới.
Hạn, mặn nhưng vẫn được mùa
![]() |
| Dù diễn biến khốc liệt của thời tiết, nhưng bà con ở nhiều địa phương khu vực ĐBSCL vẫn có vụ thu hoạch đạt năng suất cao. |
Có thể thấy, mặc dù thiên tai hạn mặn diễn ra gay gắt, gây không ít khó khăn cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên do có sự chủ động ứng phó từ sớm, việc đánh giá sát với tình hình thực tế của các bộ, ngành chức năng, cùng với việc triển khai đồng bộ các giải pháp từ các địa phương, nên lúa vụ đông xuân 2019-2020 ở khu vực này lại thắng lợi lớn, năng suất cao, mức độ thiệt hại rất ít. Để hạn chế thiệt hại do hạn hán, xâm nhập sẽ tiếp tục gây ra trong mùa khô năm 2019-2020, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai đề nghị các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long theo dõi sát tình hình, cập nhật hằng ngày diễn biến thời tiết, nguồn nước ở thượng nguồn sông Mê Công.
Tổ chức đo đạc, theo dõi độ mặn ở các vùng cửa sông, cửa lấy nước vào công trình thủy lợi, trong công trình thủy lợi để kịp thời phát hiện, nắm bắt tình trạng xâm nhập mặn, thực hiện lấy nước phù hợp. Kiên Giang là tỉnh có diện tích sản xuất lúa lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với trên 290.000 ha, lại là tỉnh ven biển nên nếu xâm nhập mặn không được kiểm soát tốt sẽ gây thiệt hại rất lớn. Từ bài học của đợt hạn mặn lịch sử năm 2015-2016 đã giúp ngành nông nghiệp tỉnh cũng như nông dân có những giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống hạn mặn.
TS Đỗ Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cho biết, dựa trên tình hình dự báo, ngay từ cuối năm 2019 tỉnh đã triển khai công tác phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô 2019-2020. Trong đó, đối với sản xuất nông nghiệp, xác định vùng bị ảnh hưởng nặng là ven biển từ TP Rạch Giá đến TP Hà Tiên, vùng ven sông Cái Lớn, Cái Bé và các huyện vùng U Minh Thượng. Chi cục Thủy lợi đã vận hành hệ thống cống thủy lợi trên địa bàn TP Rạch Giá, ven sông Cái Bé thuộc huyện Châu Thành, vùng U Minh Thượng để ngăn mặn, giữ ngọt hiệu quả. Bên cạnh đó, các địa phương vùng ảnh hưởng mặn đã triển khai gia cố, đắp mới đập thời vụ để tăng cường bảo vệ lúa đông xuân 2019-2020 và tiếp tục phòng chống hạn, mặn cho vụ hè thu 2020, chính vì vậy, năng suất bình quân vụ lúa đông xuân của Kiên Giang ước đạt 7,29 tấn/ha, trong khi kế hoạch của tỉnh đề ra là đạt 7,02 tấn/ha, phần nào đã bù đắp diện tích bị thiệt hại và tổng sản lượng thu hoạch ước sẽ vượt con số 2,027 triệu tấn kế hoạch.
Tại An Giang, vụ lúa này toàn tỉnh sản xuất 234.000 ha. Tuy thu hoạch muộn hơn so với các tỉnh trong khu vực nhưng nông dân nơi đây rất phấn khởi vì lúa trúng mùa, bán giá cao. Theo ông Nguyễn Sĩ Lâm, Giám đốc Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, để thắng lợi vụ lúa đông xuân năm nay, ngành nông nghiệp đã linh hoạt thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển từ đất lúa sang trồng các loại cây màu có giá trị kinh tế cao, mô%3ḅt phần tăng vụ đối với mô%3ḅt số loại cây màu đang có thị trường. Chủ động trong công tác chỉ đạo sản xuất nhằm có kế hoạch, giải pháp kịp thời với những diễn biến ảnh hưởng đến sản xuất.
Theo đó, ngành nông nghiệp An Giang đã căn cứ dự báo thời tiết kết hợp với tình hình thực tế ở địa phương từ đó đề ra lịch xuống giống và các giải pháp cụ thể cho sản xuất lúa năm 2020. Các tiêu chí được đặt ra là trên 70% diện tích sử dụng giống lúa chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu, sạ lúa theo hàng, giảm mật độ sạ, giảm bón lượng phân đạm dư thừa, giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu...Đẩy mạnh áp dụng đồng bộ các mô hình, giải pháp tổng hợp trong sản xuất lúa như: phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM, “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, kết hợp trồng hoa trên bờ ruộng, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa lớn bền vững đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường.
Từ TP Cần Thơ về vùng Nam sông Hậu tỉnh Sóc Trăng, nông dân canh tác lúa cho biết có sự chuyển đổi và đón nhận hiệu quả bất ngờ. Trên nhiều cánh đồng lúa sớm vùng ven biển trúng mùa, đạt năng suất cao nhờ vào vụ sớm. Diện tích lúa đông xuân sớm và đông xuân chính vụ đang được thu hoạch, năng suất bình quân trên 6,5 tấn/ha, cao hơn vụ đông xuân năm trước từ 200kg đến 300 kg/ha. Đạt kết quả trên là do có sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn điều chỉnh lịch thời vụ né tránh hạn, mặn đầu vụ. Nhiều địa phương đã tích cực cơ cấu lại giống cây trồng, chịu hạn mặn. Điển hình như tỉnh Sóc Trăng chuyển đổi cơ cấu canh tác lúa theo hướng nâng dần tỷ trọng lúa thơm đặc sản chiếm trên 51%. Trong đó nhóm giống lúa ST, lúa Tài Nguyên có gần 17.000 ha, năng bình quân đạt 5,5 tấn đến 6 tấn/ha. Đặc biệt nông dân bán lúa thơm đặc sản được giá 7.000-7.400 đ/kg (lúa tươi), mức cao nhất so với các giống lúa khác…
PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu, trường Đại học Cần Thơ cho rằng, nhờ đúc kết được bài học từ đợt hạn, mặn năm 2016 nên năm 2020, tuy hạn mặn gay gắt hơn, nhưng thiệt hại về sản xuất nông nghiệp đã được hạn chế vì các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long nghe cảnh báo của chuyên gia, ngành nông nghiệp, tận dụng mực nước lũ thấp, xuống giống vụ Đông Xuân sớm hơn mọi năm, sử dụng giống lúa ngắn ngày nên kịp thu hoạch. Đối với các vườn cây, ruộng, rẫy, bà con đã biết cách be gốc, nạo vét kênh mương trữ nước, dùng vật liệu phủ nên thiệt hại không đáng kể. Cùng với đó, nhiều nơi đã biết trữ nước vào cuối mùa mưa ở kênh, mương, ao, đìa, lu, khạp, nên còn giữ được nước ngọt để đối phó cho những tháng hạn tới.
Như vậy, với sự chủ động ứng phó với hạn mặn, tích cực thay đổi cơ cấu giống cây trồng, tuân thủ theo khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn và các nhà khoa học, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vẫn có thể vượt qua được khó khăn do biến đổi khí hậu để có những mùa vàng bội thu, góp phần củng cố vị thế Việt Nam luôn ở trong tốp đầu của thế giới về xuất khẩu gạo. Cũng có thể thấy, sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long đã dần “miễn nhiễm” với hạn mặn.
Cần lối đi thật căn cơ
![]() |
| Đẩy nhanh hoàn thiện các công trình thủy lợi ở ĐBSCL giúp phòng, chống hạn mặn có hiệu quả về lâu dài. |
Để ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, về lâu dài, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, trong đó tập trung chuyển đổi sản xuất theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan làm việc với các nước thượng nguồn sông Mê Công thu thập thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện ngoài lãnh thổ Việt Nam để phục vụ dự báo xâm nhập mặn; đề xuất tăng cường xả nước từ các hồ chứa thủy điện để đẩy mặn cho Đồng bằng sông Cửu Long trong trường hợp cần thiết.
Đối với những giải pháp cụ thể, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai yêu cầu các tỉnh, thành phố thuộc Đồng bằng sông Cửu Long tổ chức vận hành hợp lý công trình thủy lợi để tranh thủ lấy nước khi độ mặn ở mức cho phép, tăng cường tích trữ nước vào nội đồng, khẩn trương đóng cống ngăn mặn xâm nhập khi độ mặn lên cao, đặc biệt tại các cống thuộc hệ thống thủy lợi Bảo Định trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, Nam Măng Thít thuộc tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long. Với hệ thống thủy lợi Quản Lộ - Phụng Hiệp, cần có sự phối hợp vận hành bảo đảm đáp ứng nhu cầu khác nhau về nước ngọt, mặn của các địa phương. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các công trình phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn đang được bàn giao tạm thời để vận hành trong mùa khô 2019-2020, như: Cống Ninh Quới, Trạm bơm Xuân Hòa, các cống Tân Dinh, Bông Bót, Tân Định, Vũng Liêm, kênh Mây Phốp-Ngã Hậu, hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre. Bên cạnh đó, rà soát diện tích vườn cây ăn trái và vườn giống cây ăn trái trong toàn vùng và tại 9 tỉnh có nguy cơ ảnh hưởng của hạn, mặn, chi tiết đến từng loại cây trồng và từng huyện, hướng dẫn bằng tài liệu, truyền thông trên báo, truyền hình Trung ương và địa phương các giải pháp chủ động ứng phó với hạn mặn.
TS. Dương Văn Ni, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên - Trường Đại Học Cần Thơ cho rằng, Nghị Quyết 120 của Chính phủ đã cởi trói cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long một cách tích cực và cho phép Đồng bằng sông Cửu Long uyển chuyển ứng phó tuỳ theo tình huống ở mỗi địa phương. Đối với những vùng không thể đưa nước ngọt từ sông Hậu xuống tới được thì phải chọn phương án canh tác đan xen giữa mặn và ngọt và phải chấp nhận bớt thâm canh nông nghiệp đi để giảm thiểu rủi ro. Tỉnh Bến Tre đã có kiến nghị, đề xuất với Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương xem xét ban hành cơ chế, chính sách mới trong việc điều phối, sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mekong. Nghiên cứu đầu tư xây dựng một số hồ chứa nước ngọt, đặc biệt ở vùng tứ giác Long Xuyên, để đảm bảo vai trò xả nước điều tiết, hạn chế những đợt triều cường, xâm nhập mặn vào các cửa sông ở lưu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Đồng thời, tạo nguồn nước và hệ thống cung cấp nước thô ổn định để kết nối cung cấp cho các nhà máy nước hiện có của các tỉnh, đáp ứng được nhu cầu nước ngọt phục vụ sinh hoạt, sản xuất của nhân dân và doanh nghiệp trong toàn vùng. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai đề nghị Chính phủ đưa nội dung liên quan đến việc thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn vào Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ; trong đó, bao gồm nội dung hỗ trợ kinh phí từ ngân sách dự phòng Trung ương để các địa phương thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn; các chi phí cần hỗ trợ như bơm nước, nạo vét cửa lấy nước, hệ thống kênh mương, đắp đập tạm ngăn mặn, trữ ngọt, lắp đặt trạm bơm dã chiến, đào ao, giếng trữ nước, khoan giếng, kéo dài đường ống cấp nước sạch, lắp thêm vòi nước công cộng, các thiết bị trữ nước, lọc nước mặn thành nước ngọt, chở nước sinh hoạt. Hạn hán, xâm nhập sẽ còn tăng cao hơn trong thời gian tới.
Ở cấp độ quốc tế, cần chủ động khuyến nghị các quốc gia vùng thượng nguồn như Trung Quốc, Lào, Campuchia có chính sách liên kết trong khai thác và sử dụng nguồn nước sông Mê Kông đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các quốc gia dân tộc. Ngoài ra, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai và các tỉnh, thành phố chịu ảnh hưởng tiếp tục chỉ đạo vận động các tổ chức quốc tế hỗ trợ nguồn lực cho ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn qua đối tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai, trước mắt tập trung hỗ trợ các trang thiết bị trữ nước sinh hoạt cho người dân; hỗ trợ chuyên gia trong việc xây dựng kế hoạch ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn, nâng cao nhận thức cộng đồng. Rõ ràng bài toán đẩy lùi hạn mặn, giữ đủ nguồn nước ngọt cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang đặt ra vừa bức thiết, lâu dài trong điều kiện khu vực này đang chịu “tác động kép” là hạn, mặn và nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Những tác động tiêu cực này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh trước mắt và lâu dài mà còn đe dọa đến đời sống, sức khỏe của người dân trong vùng; gây nguy cơ làm mất ổn định trong vùng./..




