Phải chủ động ứng phó với hạn, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đó là ý kiến của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp khi nói về bài học rút ra từ đợt hạn, mặn vừa qua tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp (Ảnh: Văn Giang) |
Phóng viên (PV): Thứ trưởng đánh giá như thế nào về hạn mặn vừa qua ở ĐBSCL và dự báo tình hình trong thời gian tới?
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp: Hạn mặn 2019-2020, chúng tôi đánh giá là hạn mặn lịch sử, lớn nhất từ trước đến nay, trong số liệu quan trắc, thuỷ văn đo được có ba đặc điểm rất quan trọng.
Hạn mặn 2019-2020 đến sớm hơn so với cùng kỳ nhiều năm là hơn một tháng. Ngay từ cuối tháng 11/2019 đã bắt đầu có hạn mặn. Thứ hai là vào rất sâu. Ví dụ như Bến Tre, đến thời điểm này toàn bộ sông Hàm Luông vẫn bị mặn và chưa bao giờ như vậy và rút rất chậm, rất lâu. Bình thường, khoảng giữa tháng 4 đã hết hạn, mặn nhưng chúng tôi đang dự báo, hết tháng 5 mới có khả năng bắt đầu có mưa từ thượng nguồn và mưa nội địa mới có thể giảm hạn, mặn này.
Vậy đây là những đặc điểm rất lạ, bất thường. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn chủ động do đã dự báo rất đúng và rất sớm. Ngay từ tháng 9/2019, chúng ta đã bắt đầu triển khai các hoạt động để phòng, chống hạn mặn. Chính vì chúng ta dự báo sớm và dự báo đúng, các pháp chủ động, đến thời điểm này, khẳng định thiệt hại giảm thiểu.
Đến thời điểm này, chúng tôi tổng hợp diện tích lúa bị giảm năng suất từ 30-70% khoảng gần 60.000 ha, trong số đó có một số bị mất 100%. Cây ăn trái, tính đến thời điểm này, duy nhất có 1,7 ha ở Chợ Lách - Bến Tre có ảnh hưởng nhưng bà con đã kết hợp để chuyển sang cây trồng khác.
Về nước sạch, có khoảng 96.000 hộ dân thiếu nước và có các giải pháp ngay từ đầu nên có bị ảnh hưởng nhưng không có hộ dân nào không có nước sạch để sử dụng. Về sản xuất kinh doanh khác không bị ảnh hưởng.
PV: Từ đợt hạn, mặn này, chúng ta rút ra được bài học gì, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp: Có thể nói để thành công, đầu tiên là tính chủ động. Hiện nay, biến đổi khí hậu và tính dị thường của thời tiết chắc chắn sẽ càng ngày càng khó dự báo. Vì vậy, chúng ta không chủ động sẽ không thể ứng phó. Đặc biệt là sự chủ động của người dân, các cấp chính quyền và chủ động trong dự báo, cảnh báo sớm.
Bài học thứ hai là chúng ta phải kết hợp các giải pháp, kể cả giải pháp công trình, phi công trình, cả ngắn hạn và dài hạn. Nếu như chúng ta chỉ lựa chọn giải pháp ngắn hạn mà không dài hạn thì không bền vững. Các giải pháp công trình mà không tính đến các giải pháp phi công trình sẽ không có hiệu quả. Có thể nói, đây là bài học lớn.
Rất nhiều công trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, của các địa phương làm thay đổi và đưa vào đúng đợt hạn, mặn nên giảm thiểu rất lớn những vùng ảnh hưởng. Các công trình đưa vào sớm để điều tiết mặn - ngọt và đã điều tiết cho khoảng hơn 300.000 ha lúa. Nếu không có các công trình này sẽ có hàng trăm héc-ta lúa sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng.
Về giải pháp công trình dài hạn, chắc chắn chúng ta phải làm thế nào kiểm soát được mặn - ngọt. Như vậy, các công trình đầu tư dài hạn phải đảm bảo được tái cơ cấu và đảm bảo được đúng với mục tiêu là nước mặn, nước lợ cũng là nguồn tài nguyên. Như vậy phải có các công trình.
PV: Thứ trưởng có thể chia sẻ thông tin về tiến độ của các công trình thời gian tới, đến thời điểm nào sẽ kiểm soát được các yếu tố hạn, mặn?
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang đầu tư 11 hệ thống công trình thuỷ lợi tại ĐBCSL. Sau hạn, mặn năm 2015-2016, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rất quyết liệt và đã có nghiên cứu để đầu tư các công trình này. Trong đó, 5 công trình đã đưa vào sử dụng sớm trước từ 5-14 tháng trong đợt này.
Các công trình còn lại đang đầu tư và đang đẩy mạnh triển khai, đặc biệt là hệ thống Cái Lớn - Cái Bé để điều tiết mặn, ngọt cho toàn bộ Hậu Giang và một phần của Kiên Giang và Cà Mau. Những công trình này khi phát huy hiệu quả đầy đủ sẽ tác động đến khoảng 1 triệu ha lúa và cây ăn trái. Cùng với đó, vùng nuôi trồng thuỷ sản cũng sẽ được điều tiết.
Hiện nay, rất nhiều vùng ở ĐBSCL, tôm là thế mạnh nhưng chỉ nuôi được 1 mùa do mặn quá không nuôi được tôm. Về trung hạn 2021-2025, chúng tôi đang bàn với các tỉnh để tập trung đầu tư các hệ thống thuỷ lợi liên vùng, mang tính động lực để góp phần vào việc tái cơ cấu nông nghiệp và đảm bảo khắc phục được tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn.
Bởi vậy, ngành sẽ đầu tư giai đoạn I của hệ thống Cái Lớn - Cái Bé và cố gắng nghiên cứu cùng Cà Mau để chuyển nước ngọt cho tỉnh này. Các hệ thống liên tỉnh mà chúng tôi đầu tư sẽ nhắm đến mục tiêu điều tiết các nguồn nước để làm thế nào cố gắng đến năm 2025 sẽ khắc phục cơ bản tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn. Còn xa hơn, chúng tôi phấn đấu đến năm 2030 giải quyết được câu chuyện này.
Dự kiến ngân sách nhà nước bỏ ra khoảng 30.000 tỷ đồng. Ngoài ra, chúng tôi đang bàn với một số định chế tài chính quốc tế, để có một số nguồn vốn vay, đặc biệt là tập trung vào nguồn nước sạch cho ĐBSCL để ngay lập tức trong vòng hai năm tới giải quyết được câu chuyện thiếu nước sinh hoạt.
PV: Qua các đợt hạn mặn lịch sử vừa qua, Thứ trưởng có nhìn nhận gì về chiến lược nước cho khu vực này?
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp: Thực ra chúng ta đã bàn đến lâu và đến thời điểm này, đặc biệt sau đợt mặn vừa qua càng cần phải đặt ra một bài toán, một câu chuyện về an ninh nguồn nước.
An ninh nguồn nước đặt ra trong rất nhiều phương diện nhưng có hai yếu tố chủ yếu là: đảm bảo đủ nước, chủ động để đảm bảo cân đối được nguồn nước và nguồn nước không được ô nhiễm.
ĐBSCL thường thiếu nước từ tháng 12 đến tháng 4, không phải lúc nào cũng thiếu. Chính vì thế bằng các giải pháp điều tiết đảm bảo an ninh nguồn nước cho ĐBSCL, chúng tôi sẽ cùng với các tỉnh, các nhà nghiên cứu bàn giải pháp đầu tư. Những công trình cần thiết sẽ làm trước. Còn những công trình mà khi chúng ta làm có thể gây ra những tác động ảnh hưởng sẽ phải tính toán cụ thể và đầu tư sau.
PV: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng./.


