03/03/2026
x
+
aa
-

Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mắc ca đạt 400 triệu USD vào năm 2030

(ĐCSVN) - Theo Đề án phát triển bền vững mắc ca giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, phấn đấu đến năm 2030, sản lượng mắc ca qua chế biến đạt khoảng 130.000 tấn hạt. Đồng thời, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 400 triệu USD, trong đó tỷ lệ sản phẩm mắc ca nguyên vỏ không vượt quá 40%.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành vừa ký ban hành Quyết định số 344/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển bền vững mắc ca giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

 Ảnh minh họa (Nguồn: B.T)

Quan điểm của Đề án nêu rõ, mắc ca là cây trồng nhập nội, mới được gây trồng, phát triển ở Việt Nam. Việc phát triển vùng trồng mắc ca cần được nghiên cứu, triển khai từng bước thận trọng, trên cơ sở khoa học, thực tiễn vững chắc và nhu cầu của thị trường, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phù hợp với các chiến lược, quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần ổn định dân cư, giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, phát triển mắc ca trên cơ sở phát huy lợi thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng địa phương; từng bước hình thành ngành hàng mắc ca theo chuỗi giá trị sản phẩm từ trồng, đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Phát triển mắc ca trên cơ sở xây dựng vùng trồng tập trung, đầu tư thâm canh, áp dụng đồng bộ tiến bộ khoa học, công nghệ mới để nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra sản phẩm hàng hoá đa dạng, phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thị trường, có sức cạnh tranh cao.

Theo đó, mục tiêu của Đề án đề ra, phấn đấu sản lượng mắc ca qua chế biến đạt khoảng 130.000 tấn hạt vào năm 2030, khoảng 500.000 tấn hạt vào năm 2050. Giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mắc ca đạt khoảng 400 triệu USD vào năm 2030, khoảng 2,5 tỷ USD vào năm 2050, trong đó tỷ lệ sản phẩm mắc ca nguyên vỏ không vượt quá 40%.

Về định hướng phát triển, đến năm 2030, phấn đấu tổng diện tích mắc ca cả nước đạt từ 130.000 - 150.000 ha, tập trung tại các tỉnh vùng Tây Bắc (khoảng 75.000 - 95.000 ha, chủ yếu tại các tỉnh Điện Biên, Lai Châu), vùng Tây Nguyên (khoảng 45.000 ha, chủ yếu tại các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Kon Tum) và một số địa phương có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca (khoảng 10.000 ha). Đến năm 2050, phấn đấu đạt khoảng 250.000 ha.

Về cơ sở chế biến, Đề án cho biết, đến năm 2030, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở sơ chế, chế biến mắc ca gắn với vùng trồng nguyên liệu tại vùng Tây Bắc và Tây Nguyên. Nâng cấp 65 cơ sở sơ chế, chế biến hiện có, xây dựng mới khoảng 300 - 400 cơ sở sơ chế, chế biến, công suất mỗi cơ sở từ 100 - 200 tấn hạt/năm. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng khoảng 8 nhà máy chế biến sâu các sản phẩm mắc ca có giá trị cao, công suất mỗi cơ sở từ 10.000 - 15.000 tấn hạt tươi/năm tại những địa phương có điều kiện thuận lợi.

Nhằm đạt được các mục tiêu của Đề án, các giải pháp cần được tập trung triển khai gồm: Tiếp tục nghiên cứu chọn tạo, nhập nội, khảo nghiệm làm đa dạng bộ giống mắc ca theo hướng cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, chống chịu sâu bệnh hại, thích nghi với các tiểu vùng sinh thái.

Xây dựng hệ thống vườn cây đầu dòng, tập trung cho vùng Tây Bắc để có đủ nguồn vật liệu sản xuất giống; hoàn thiện và làm chủ công nghệ nhân giống vô tính cây mắc ca ở quy mô công nghiệp; nâng cao năng lực hệ thống sản xuất giống nhằm cung cấp đủ giống đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ trồng mới, ghép cải tạo theo mục tiêu Đề án.

Về tổ chức sản xuất, các địa phương căn cứ điều kiện thực tiễn, phối hợp với các đơn vị khoa học rà soát quỹ đất thuộc quy hoạch rừng sản xuất để phát triển mắc ca theo phương thức trồng thuần loài; trồng xen mắc ca trên đất trồng cây công nghiệp và đất trống thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, phù hợp với quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và kế hoạch sử dụng đất từng giai đoạn.

Khuyến khích các doanh nghiệp liên kết với nông dân sản xuất mắc ca thông qua cầu nối hợp tác xã và tổ hợp tác xây dựng vùng trồng mắc ca tập trung, hình thành chuỗi ngành hàng mắc ca từ trồng đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

Về thị trường tiêu thụ, đối với thị trường trong nước, các địa phương cần hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm mắc ca, gắn với chỉ dẫn địa lý; thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, tuyên truyền, giới thiệu để người tiêu dùng trong nước có đủ thông tin về sản phẩm mắc ca.

Đối với thị trường xuất khẩu, các địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam và doanh nghiệp thực hiện các biện pháp mở rộng thị trường xuất khẩu, tháo gỡ rào cản thương mại. Tập trung thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch sản phẩm nhân và hạt mắc ca nguyên vỏ, các sản phẩm mắc ca chế biến sâu vào thị trường các nước,…

Triển khai thực hiện, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực Đề án, chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện Đề án có hiệu quả. Chủ trì, phối hợp đề xuất, xây dựng cơ chế, chính sách thực hiện Đề án trình cấp có thẩm quyền ban hành.

Cùng với đó, quản lý chặt chẽ giống cây mắc ca theo đúng quy định của pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương trồng cây mắc ca bằng các giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận; tiếp tục nghiên cứu, chọn, tạo các giống mắc ca mới có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với các tiểu vùng sinh thái của Việt Nam; bổ sung, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn kỹ thuật về cây mắc ca theo hướng thâm canh; tăng cường tổ chức đào tạo, tập huấn và chuyển giao khoa học, kỹ thuật về phát triển cây mắc ca.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ các địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm mắc ca Việt Nam; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương rà soát, xây dựng hệ thống cơ sở chế biến sâu, công nghệ hiện đại với quy mô phù hợp, gắn với vùng nguyên liệu, tạo ra sản phẩm đa dạng, chất lượng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Ngoài ra, đối với các địa phương có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây mắc ca cần tiến hành rà soát, đánh giá, xác định quy mô và quỹ đất phù hợp để trồng mắc ca, tích hợp vùng trồng mắc ca vào quy hoạch tỉnh. Đồng thời, nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách của địa phương theo hướng khuyến khích liên kết sản xuất, tích tụ đất đai để hình thành vùng trồng thâm canh cây mắc ca tập trung; tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư, phát triển mắc ca theo chuỗi giá trị, chế biến sâu, gắn với thị trường tiêu thụ.

Mặt khác, cân đối, huy động các nguồn vốn để thực hiện Đề án theo quy định của pháp luật. Quản lý chặt chẽ công tác sản xuất, buôn bán giống cây mắc ca trên địa bàn theo thẩm quyền và quy định của pháp luật; xử lý nghiêm đối với những tổ chức, cá nhân sản xuất, cung ứng giống mắc ca vi phạm pháp luật,…/.

BT

Other news

Doanh nghiệp Cần Thơ chủ động thích ứng, từng bước chuyển mình trong kỷ nguyên mới 
Những tháng đầu năm 2026, tình hình phát triển doanh nghiệp thành phố ghi nhận dấu hiệu khởi sắc, thể hiện ở số doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng vượt bậc.
Kiểm soát hàm lượng màu thực phẩm trong sản xuất công nghiệp
Trong ngành thực phẩm hiện đại, màu sắc không chỉ tạo ấn tượng thị giác mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Quy định an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe, kiểm soát định lượng màu đang trở thành yêu cầu bắt buộc thay vì lựa chọn tùy ý.
Chủ đầu tư đại lý VinFast tiết lộ công thức bán trên 10.000 xe ô tô điện mỗi năm từ mô hình kinh doanh “siêu độc” 
Sau 17 năm kinh doanh ô tô thương hiệu ngoại, ông Đỗ Minh Đạo - Chủ tịch Hội đồng quản trị Vân Đạo Group, đơn vị quản lý, vận hành hệ thống VinFast Minh Đạo - quyết định chuyển hướng, đồng hành cùng thương hiệu Việt.
Mua VinFast VF 7 lúc này, hưởng trọn bộ ba ưu đãi: Lãi suất cố định, 0 đồng vốn đối ứng, sạc miễn phí 3 năm 
Hội tụ bộ ba lợi thế: thiết kế thời thượng, trải nghiệm lái đầy phấn khích, chi phí sở hữu và vận hành cực rẻ, VinFast VF 7 đang ngày càng chiếm được cảm tình của nhiều khách hàng.
VinFast VF 5: Chiếc A-SUV giải trọn vẹn bài toán kinh tế và trải nghiệm 
Kinh tế, thực dụng nhưng vẫn mang lại những trải nghiệm vượt mong đợi, VinFast VF 5 đã trở thành một chiếc xe “quốc dân” chinh phục hàng vạn người dùng Việt.
Top