13/03/2026
x
+
aa
-

Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn thời kỳ 2021 – 2030

(ĐCSVN) – Cục Hàng hải Việt Nam đã có tờ trình gửi Bộ Giao thông Vận tải thẩm định “Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050".
(ĐCSVN) – Cục Hàng hải Việt Nam đã có tờ trình gửi Bộ Giao thông Vận tải thẩm định “Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050".
  Cảng cạn ICD Mỹ Đình được đặt tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Đáng chú ý, Cục Hàng hải Việt Nam đã đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2025: Phát triển hệ thống cảng cạn có khả năng thông qua khoảng 20 - 30% nhu cầu hàng hóa vận tải container xuất nhập khẩu với tổng công suất khoảng 6 - 8,7 triệu Teu/năm.

Theo tờ trình của Cục Hàng hải Việt Nam, việc triển khai lập quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn (ICD) phải vừa đảm bảo tuân thủ Luật Quy hoạch và là tiền đề để hoạch định các chính sách, giải pháp phát triển cảng cạn một cách đồng bộ, hỗ trợ hiệu quả đối với khai thác cảng biển và các hoạt động vận tải nói chung. Đến thời điểm hiện tại, cả nước đã đầu tư, công bố và đưa vào khai thác 10 cảng cạn, 6 cảng thông quan nội địa - ICD đang hoạt động thuộc các vị trí được quy hoạch cảng cạn nhưng các chủ đầu tư chưa thực hiện thủ tục chuyển đổi thành cảng cạn theo quy định. Các cảng ICD được phân bổ tập trung trên 5 hàng lang và khu vực kinh tế trong tổng số 15 hành lang và khu vực kinh tế có quy hoạch cảng cạn.

Trong đó, khu vực phía Bắc, có 9 cảng cạn gồm: Hải Linh, Móng Cái, Tân Cảng Đình Vũ, Đình Vũ - Quảng Bình, Hoàng Thành, Tân cảng Hà Nam, Tân cảng Quế Võ, Phúc Lộc và Long Biên; 5 ICD gồm Tiên Sơn, Thụy Vân, Lào Cai, Mỹ Đình, Hải Dương. Khu vực miền Nam có một cảng cạn duy nhất là Tân cảng Nhơn Trạch và 9 ICD gồm Phước Long, Transimex, Sotrans, Tây Nam (Tanamexco), Phúc Long, Tân Cảng Long Bình, Sóng Thần, Biên Hòa và TBS - Tân Vạn.

Tổng khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng container thông qua các cảng cạn và ICD đang hoạt động hiện nay khoảng 4,2 triệu TEU/năm.

Cũng theo Cục Hàng hải Việt Nam, cảng cạn là một bộ phận của kết cấu hạ tầng giao thông, tuy nhiên một thời gian dài chưa được quan tâm phát triển đúng mức. Quy hoạch phát triển cảng cạn thời gian gần đây mới được xây dựng nên quá trình triển khai thực hiện còn thiếu tính đồng bộ với các quy hoạch khác, đặc biệt các quy hoạch chuyên ngành giao thông vận tải, quy hoạch sử dụng đất... Từ đó, cơ quan này đã chỉ ra mục tiêu từng bước hình thành và phát triển hệ thống cảng cạn trên phạm vi cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu, tăng năng lực thông qua hàng hóa của các cảng biển; tổ chức vận tải container một cách hợp lý nhằm giảm chi phí vận chuyển và thời gian lưu hàng tại cảng biển, đảm bảo an toàn hàng hóa; góp phần giảm ùn tắc giao thông, đặc biệt ở các đô thị lớn và khu vực có cảng biển lớn. Phát triển hệ thống cảng cạn trở thành các đầu mối tổ chức vận tải, trung chuyển, phân phối hàng hóa, kết hợp với cung cấp các dịch vụ logistics.

Cụ thể, đến năm 2025, phát triển hệ thống cảng cạn có khả năng thông qua khoảng 20 - 30% nhu cầu hàng hóa vận tải container xuất nhập khẩu với tổng công suất khoảng 6 - 8,7 triệu Teu/năm. Trong đó, miền Bắc gồm các cảng cạn, cụm cảng cạn với công suất khoảng 2,2 - 3 triệu Teu/năm; miền Trung - Tây Nguyên có các cảng cạn, cụm cảng cạn với công suất khoảng 0,24 - 0,37 triệu Teu/năm; miền Nam có các cảng cạn, cụm cảng cạn với công suất khoảng 3,5 - 5,3 triệu Teu/năm.

Đến năm 2030, phát triển hệ thống cảng cạn có khả năng thông qua khoảng 25 - 35% nhu cầu hàng hóa vận tải container xuất nhập khẩu theo các hành lang vận tải. Hình thành các cảng cạn, cụm cảng cạn với tổng công suất khoảng 11,6 - 15,7 triệu Teu/năm. Trong đó, miền Bắc gồm các cảng cạn, cụm cảng cạn với công suất khoảng 4,2 - 5,5 triệu Teu/năm; miền Trung - Tây Nguyên có các cảng cạn, cụm cảng cạn với công suất khoảng 0,66 - 0,95 triệu Teu/năm; miền Nam có các cảng cạn, cụm cảng cạn với công suất khoảng 6,8 - 9,3 triệu Teu/năm.

Định hướng đến năm 2050, sẽ phát triển hệ thống cảng cạn trở thành các đầu mối tổ chức vận tải, trung chuyển, phân phối hàng hóa, kết hợp với cung cấp các dịch vụ logistics, có khả năng thông qua khoảng 30 - 35% nhu cầu hàng hóa vận tải container xuất nhập khẩu theo các hành lang vận tải, đồng thời đáp ứng nhu cầu dịch vụ logistics tại các địa phương./.

 
 
 
 
 
Tin, ảnh: KC

Other news

Chủ động đảm bảo cung cấp điện mùa khô năm 2026 
Thời điểm này, TP Cần Thơ cũng như nhiều tỉnh, thành phía Nam đang bước vào giai đoạn nắng nóng gay gắt của mùa khô, kèm theo những diễn biến thời tiết thất thường, kéo theo nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh dịch vụ tăng cao.
Căng thẳng Trung Đông: Doanh nghiệp Việt quản trị rủi ro thế nào khi xuất nhập khẩu? 
Giữa bối cảnh căng thẳng quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng các biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả để bảo vệ hoạt động xuất nhập khẩu và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Chị em chọn xe gì để vừa đẹp, vừa tự tin cầm lái? 
Từ thiết kế “chuẩn fashionista”, nội thất tiện nghi tới khả năng vận hành mạnh mẽ và chi phí sử dụng thấp, VinFast VF 7 là mẫu SUV điện được nhiều khách hàng ước ao, đặc biệt là chị em phụ nữ.
Tiếp tục chi mạnh quỹ bình ổn, xăng RON95 tăng giá nhẹ từ 22 giờ ngày 12/3 
Sau khi điều chỉnh, xăng E5RON92 không cao hơn 22.504 đồng/lít; xăng RON95-III không cao hơn 25.575 đồng/lít; dầu điêzen 0.05S không cao hơn 27.025 đồng/lít; dầu hỏa không cao hơn 26.932 đồng/lít; dầu madút 180CST 3.5S không cao hơn 18.661 đồng/kg.
Giải pháp tạo đột phá cho tăng trưởng khu vực I 
Năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) TP Cần Thơ đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế (GRDP) khu vực I tăng tối thiểu 4,33% trở lên. Để đạt mục tiêu đề ra, ngành Nông nghiệp thành phố xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng định hướng, tăng nhanh tỷ trọng giá trị cây trồng, vật nuôi, đây là cơ sở quan trọng để hoàn thành kế hoạch của năm nay.
Top