Tham mưu ban hành chủ trương, định hướng mới về liên kết vùng tại miền Trung
![]() |
| Đồng chí Trần Tuấn Anh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 39 kết luận Toạ đàm |
Thực tiễn liên kết và các giải pháp liên kết vùng thời gian tới
Theo Ban tổ chức, Tọa đàm "Liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Trung trong bối cảnh mới" đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo quốc phòng, an ninh các địa phương vùng KTTĐ miền Trung và cả vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung bộ trong thời gian tới.
Tại Toạ đàm, nhiều tham luận của các bộ, ngành, các viện, trường và các chuyên gia, nhà khoa học đã trao đổi, đề cập sâu vào thực tiễn triển khai liên kết vùng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường liên kết vùng KTTĐ miền Trung trong thời gian tới.
Trong đó, có 04 nội dung lớn được Toạ đàm tập trung như: việc ban hành, tổ chức thực hiện và hiệu lực, hiệu quả của các thể chế, cơ chế liên kết vùng KTTĐ miền Trung thời gian qua; thực trạng và định hướng quy hoạch, quản lý quy hoạch nhằm tăng cường liên kết vùng KTTĐ miền Trung; thực trạng và các giải pháp liên kết một số ngành, lĩnh vực tại vùng KTTĐ miền Trung; đề xuất các quan điểm, điều chỉnh, bổ sung các thể chế, cơ chế, chính sách, nguồn lực nhằm khai thác hiệu quả các lợi thế tương đồng và tăng cường liên kết KTTĐ miền Trung thời gian tới.
Cùng với các tham luận, ý kiến của các đại biểu, các chuyên gia đến từ các bộ, ngành Trung ương, từ thực tiễn triển khai liên kết vùng, Thường trực Tỉnh ủy các địa phương trong vùng KTTĐ miền Trung đã trực tiếp tham gia phiên trao đổi, đối thoại chính sách với những câu hỏi liên quan trực tiếp về các kết quả đạt được và các khó khăn, vướng mắc khi triển khai, thực hiện liên kết vùng; về lợi thế, tiềm năng và chiến lược phát triển của địa phương trong tổng thể vùng; về định hướng liên kết vùng và đề xuất, kiến nghị Trung ương về thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tăng cường liên kết trong vùng KTTĐ miền Trung thời gian tới.
Đặc biệt, trước bối cảnh, tình hình mới, các chuyên gia, nhà khoa học tham gia Toạ đàm cũng đã đặt ra nhiều câu hỏi trực diện, đi sâu vào các cơ chế, chính sách và nhận được những câu trả lời tâm huyết, trách nhiệm của lãnh đạo các địa phương, Bộ, ngành và làm sáng tỏ thêm một số băn khoăn liên quan đến quy hoạch, quản lý, giám sát quy hoạch và phân bổ nguồn lực cho liên kết vùng.
05 nội dung lớn Toạ đàm đạt được
Theo Ban tổ chức Toạ đàm, các tham luận, những nội dung đối thoại, trao đổi tại Tọa đàm rất sâu sắc, chất lượng, toàn diện, có tính thực tiễn cao, bám sát các chủ trương, định hướng lớn của Đảng tại Đại hội Đảng XIII để đề xuất các định hướng, các cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy liên kết phát triển vùng KTTĐ miền Trung.
![]() |
| Các đại biểu trao đổi, thảo luận tại Toạ đàm. |
Kết luận Toạ đàm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 39 Trần Tuấn Anh đã nhấn mạnh 05 nội dung lớn mà Toạ đàm đã đạt được.
Trước hết, vấn đề liên kết vùng KTTĐ miền Trung nói riêng và vùng Bắc trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đã có nhiều thay đổi cả về nhận thức và tư duy của cấp ủy và chính quyền. Đồng thời, đây cũng là vấn đề nhận được sự quan tâm của Chính phủ, các bộ ngành; cấp ủy, chính quyền các địa phương hưởng ứng; nhiều thể chế, cơ chế, chính sách đã được ban hành; nhiều nguồn lực đã được bố trí và liên kết vùng KTTĐ miền Trung đã mang lại một số kết quả tích cực.
Cụ thể như: Một số khung khổ pháp lý về liên kết phát triển vùng đã được ban hành, xác định được các nguyên tắc và lĩnh vực trọng tâm liên kết giữa các địa phương trong vùng; các giải pháp về liên kết phát triển vùng được đưa ra thảo luận, bàn bạc, thống nhất thông qua tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị vùng, hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại vùng…. ; thỏa thuận liên kết vùng ngày càng toàn diện và có xu hướng tăng, tập trung vào thu hút đầu tư, phát triển nguồn lực, phát triển giao thông, du lịch, thương mại; cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chia sẻ thông tin và ứng phó biến đổi khí hậu…; tình trạng biệt lập trong hoạch định và thực thi chính sách bước đầu được khắc phục; những vấn đề có tính vùng, liên vùng được các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện như kết nối cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông, phát triển các cảng biển, hệ thống logicstic, xúc tiến đầu tư phát triển Hành lang kinh tế Đông Tây; phát triển kinh tế biển ; kết nối đô thị trong vùng với toàn quốc và quốc tế ….; một số mâu thuẫn giữa các địa phương trong vùng dần được tháo gỡ như thu hút đầu tư, xử lý tài nguyên môi trường, các vấn đề xã hội, phối hợp triển khai các chính sách, dự án vùng và liên vùng.
Thứ hai, các đại biểu đều cho rằng liên kết tiểu vùng KTTĐ miền Trung và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung bộ đang gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế. Liên kết vùng đang thiếu các hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp, chế tài thực thi phù hợp. Hội đồng vùng KTTĐ chưa có địa vị pháp lý đầy đủ, không đủ nguồn lực để điều phối sự phát triển chung của vùng, chưa có khả năng xây dựng định hướng, chiến lược, quy hoạch vùng; chưa được trao “quyền” trong việc quyết định các nguồn lực cho các dự án vùng. Liên kết, phối hợp giữa các địa phương còn rời rạc, hình thức chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp vùng; năng lực, tư duy và trình độ quản lý vùng chưa theo kịp sự phát triển; hệ thống thông tin dữ liệu chung của vùng chưa được quan tâm. Thiếu sự phân công giữa các địa phương trong vùng; một số tài nguyên, nguồn lực bị khai thác manh mún nên hiệu quả thấp. Liên kết các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chưa đa dạng, chưa chặt chẽ; kết nối hạ tầng giao thông, cảng biển, đường sắt, đô thị còn bất cập…
Thứ ba, các đại biểu đã chia sẻ các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến liên kết vùng KTTĐ miền Trung còn hạn chế, chưa thực chất và hiệu quả nhất là hành lang pháp lý chưa đầy đủ, tổ chức và cơ chế liên kết chưa đủ mạnh; tính định hướng của quy hoạch còn hạn chế nhất là khi quy hoạch vùng tiến hành sau quy hoạch tỉnh, thiếu nguồn lực khi triển khai quy hoạch vùng; thiếu cơ chế trong phân cấp quản lý, giám sát, kiểm tra thực hiện quy hoạch. Tư tưởng lợi ích theo địa giới hành chính còn tồn tại; hiện tượng mỗi địa phương là một nền kinh tế dẫn đến liên kết phát triển ít được quan tâm, thậm chí còn cạnh tranh với nhau làm triệt tiêu lợi thế của toàn vùng. Một số ý kiến đề xuất, thực tiễn liên kết vùng KTTĐ miền Trung đòi hỏi cần có một thể chế đủ mạnh kèm theo một cơ chế điều phối, liên kết hiệu quả, thực chất trong đó Nhà nước đóng vai trò điều phối, định hướng thông qua quy hoạch và cơ chế chính sách trong quản lý và phân bổ nguồn lực.
Thứ tư, một số đại biểu đã định vị lại vùng KTTĐ miền Trung trước các tác động, bối cảnh, tình hình mới, nhất là trong việc chuyển các thách thức thành cơ hội. Một số lãnh đạo địa phương đã chia sẻ định hướng phát triển địa phương trong tổng thể vùng giai đoạn tới; về công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch các địa phương, vùng; về ban hành các cơ chế, chính sách nhằm khai thác các tiềm năng, lợi thế; về bố trí và phân bổ nguồn lực để tăng cường liên kết tiểu vùng, vùng; về thiết lập hệ thống thông tin, dữ liệu; về một số định hướng ưu tiên về liên kết vùng KTTĐ miền Trung và cả vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung bộ. Một số ý kiến cho rằng để nâng cao hiệu quả liên kết vùng KTTĐ miền Trung cần nâng cao vai trò tham mưu của các bộ, ngành, nhất là trong phân công vai trò, nhiệm vụ các địa phương; điều tiết, phân bổ nguồn lực cho các địa phương và chia sẻ lợi ích trong liên kết.... Một số đại biểu mạnh dạn đề xuất cần phân công 01 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị là Chủ tịch Hội đồng vùng.
Thứ năm, nhiều ý kiến đề xuất nhiều giải pháp thiết thực, phù hợp để tăng cường liên kết đề cập tới nhiều ngành, lĩnh vực cụ thể của vùng KTTĐ miền Trung tập trung vào đẩy nhanh tiến độ xây dựng quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, trong đó xác định biển là trung tâm; đầu tư để liên kết hạ tầng giao thông, cảng biển, hệ thống logicstic; phát triển hệ thống đô thị ven biển bền vững và đồng bộ về mạng lưới, hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị và cơ chế, chính sách tài chính phát triển đô thị; phát triển khoa học - công nghệ phục vụ các chương trình lớn của quốc gia; đổi mới sáng tạo, cách mạng công nghiệp lần thứ 4; xây dựng văn hóa vùng; phát triển nguồn nhân lực đào tạo đạt đẳng cấp quốc gia, quốc tế, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng; chống cạn kiệt tài nguyên, già hóa dân số bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai….
![]() |
| Quang cảnh Toạ đàm |
Cơ sở để tham mưu ban hành chủ trương, định hướng mới
Với những kết quả đã đạt được, Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 39- NQ/TW ghi nhận và đánh giá cao tham luận, trao đổi, thảo luận của lãnh đạo các bộ, ngành; lãnh đạo 04 địa phương vùng KTTĐ miền Trung; các chuyên gia, nhà khoa học. Các tham luận, ý kiến của lãnh đạo một số Bộ, ngành được đúc rút ra từ việc xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách và bố trí nguồn lực cho vùng; trao đổi của Thường trực Tỉnh ủy các địa phương là kết quả từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo liên kết vùng; thảo luận và ý kiến tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học là sản phẩm của nghiên cứu về liên kết và phát triển vùng KTTĐ miền Trung nói riêng và cả vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ nói chung.
Để hoàn thiện Đề án tổng kết Nghị quyết 39-NQ/TW, tại Toạ đàm, Ban Chỉ đạo giao Thường trực Tổ Biên tập tổng kết Nghị quyết 39-NQ/TW chắt lọc kết quả Tọa đàm để lựa chọn, tổng hợp đảm bảo phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ tổng kết và tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư các chủ trương, định hướng nhằm phát triển vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ thời gian tới./.




