Tiềm năng dồi dào để phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ
Đồng thời có 97 doanh nghiệp sản xuất hữu cơ, 60 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu nông sản hữu cơ đến 180 thị trường quốc tế, với kim ngạch 335 triệu USD/năm.
![]() |
| Trồng cà phê theo mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Đắk Nông. (Ảnh: K.V) |
Có thể thấy, thị trường sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đang rộng mở cả trong và ngoài nước. Song, do diện tích đất nông nghiệp ở trong nước còn nhỏ lẻ, manh mún nên khó phát triển được vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ quy mô lớn, chất lượng đồng đều cung ứng đều đặn cho khách hàng. Mặt khác, giá bán nông sản vẫn chưa tương xứng nên người làm nông nghiệp hữu có khó thu hồi vốn để tái sản xuất và duy trì các chứng nhận.
Với thị trường rộng lớn từ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, sản phẩm nông nghiệp hữu cơ trong nước được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang đối mặt nhiều thách thức như chi phí đầu vào lớn trong khi lợi nhuận thu được từ sản phẩm hữu cơ chưa tương xứng; chuyển từ tập quán canh tác thâm canh sử dụng nhiều phân thuốc sang sản xuất hữu cơ cần có thời gian; chưa gây dựng được niềm tin từ người tiêu dùng…
Theo TS Phạm Kim Sơn, Khoa Nông nghiệp, Trường Ðại học Cần Thơ, việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp những năm qua làm đất đai bị bạc màu, sâu bệnh hại phát triển tính kháng thuốc mạnh, ô nhiễm môi trường, mất đa dạng sinh học, dư lượng thuốc hóa học trong nông sản vượt mức cho phép… Trong khi đó, nhu cầu sử dụng sản phẩm nông sản sạch, an toàn ngày càng cao cả thị trường trong và ngoài nước. Do đó, Việt Nam bắt đầu chuyển dần sang xu hướng phát triển nền nông nghiệp hữu cơ, thân thiện với môi trường. Các quy trình, kỹ thuật canh tác theo hướng hữu cơ cũng được phát triển, nhân rộng nhằm giúp người sản xuất, trang trại, doanh nghiệp, hợp tác xã hiểu rõ hơn và áp dụng vào thực tế sản xuất.
Được biết, tại Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang có chương trình hành động, lộ trình chi tiết về đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hữu cơ đối với các cây trồng chính, trong đó có sản xuất lúa. Quan điểm của Bộ này là tập trung xác định một số đối tượng cây - con chủ lực để sản xuất hữu cơ ở những khu vực hội tụ đủ các điều kiện đầu vào, không phát triển tràn lan, hình thức.
Đáng chú ý, riêng với mặt hàng lúa gạo, có thể thấy trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, xuất khẩu gạo vẫn luôn là một trong những điểm sáng trong khi nhiều mặt hàng nông sản ế đọng. Tuy nhiên để xuất khẩu gạo theo hướng bền vững thì sản xuất sạch phải luôn được ưu tiên hàng đầu. Bên cạnh đó, những lô gạo xuất sang EU theo Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) càng đòi hỏi tiêu chuẩn khắt khe.
Hiện Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2018/NĐ-CP về phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư 16/2019/TT-BNNPTNT hướng dẫn chi tiết thực hiện Thông tư này. Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã có bộ tiêu chuẩn về sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chương trình hành động, lộ trình chi tiết về đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hữu cơ đối với các cây trồng chính, trong đó có sản xuất lúa.
Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam dành riêng cho nông nghiệp hữu cơ được xác định là cơ sở quan trọng để nông dân, các tổ chức, doanh nghiệp thực hành nông nghiệp hữu cơ áp dụng. Bộ tiêu chuẩn quy định đối với tổ chức đánh giá, chứng nhận hệ thống sản xuất và chế biến sản phẩm hữu cơ. Các tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam dành riêng cho nông nghiệp hữu cơ đưa ra các nguyên tắc chung về sản xuất hữu cơ tại các trang trại, từ giai đoạn sản xuất, sơ chế, bảo quản, vận chuyển, ghi nhãn, marketing và đưa ra các yêu cầu đối với vật tư đầu vào như: Phân bón, yêu cầu về ổn định đất canh tác, kiểm soát sinh vật gây hại và bệnh cây trồng, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến.
Bộ tiêu chuẩn này bảo vệ người tiêu dùng tránh bị lừa dối, tránh gian lận trong thương mại và tránh công bố sản phẩm không có căn cứ; bảo vệ cơ sở sản xuất, chế biến sản phẩm hữu cơ trước việc các sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo phương thức khác bị hiểu sai là hữu cơ.
Các tiêu chuẩn này nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất hữu cơ nói riêng, góp phần tăng giá trị sản phẩm, tăng chất lượng sản phẩm, hàng lưu thông trong nước và xuất khẩu. Vì vậy, ngành Nông nghiệp cần tăng cường áp dụng bộ tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam để thúc đẩy phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ sản xuất đến tiêu thụ.
Theo dự thảo Đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030”, đến năm 2025, diện tích cây trồng hữu cơ đạt khoảng 1,5-3% tổng diện tích gieo trồng; chăn nuôi có 5-10% sản phẩm hữu cơ (riêng đối với ong và sản phẩm từ ong khoảng 40-50% hữu cơ); khoảng 2-3% diện tích nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn hữu cơ tương đương với 60.000ha.
Đến năm 2030, diện tích cây trồng hữu cơ đạt khoảng 7-10% diện tích gieo trồng (riêng đối với các cây dược liệu, hương liệu và các sản phẩm từ thiên nhiên, diện tích hữu cơ đạt khoảng 40-50%), năng suất cây trồng hữu cơ đạt khoảng 95-100% năng suất cây trồng thường; vật nuôi có 5-10% sản phẩm hữu cơ; thủy sản có khoảng 7-8% diện tích tương đương với 100.000ha cho sản lượng khoảng 500.000 tấn./.


