Tiếp thêm “sức mạnh” cho hợp tác xã nông nghiệp
Chất lượng hoạt động của hợp tác xã có nhiều chuyển biến
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) cho biết, qua 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và 10 năm thi hành Luật Hợp tác xã năm 2012 trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế tập thể của Ngành đã đạt được nhiều kết quả nổi bật.
Cụ thể, về tình hình phát triển tổ hợp tác, tính đến năm 2021, cả nước có 34.871 tổ hợp tác nông nghiệp (giảm hơn một nửa so với năm 2001). Nhiều tổ hợp tác hoạt động hiệu quả đã phát triển lên thành các hợp tác xã. Tổng số thành viên tổ hợp tác đạt 628 nghìn người. Doanh thu bình quân của một tổ hợp tác đạt 143 triệu đồng/năm (tăng 136 triệu đồng so với năm 2001). Các tổ hợp tác đã phát huy được tinh thần tương trợ trong sản xuất, đời sống, giúp tăng thu nhập cho hộ thành viên; góp phần xóa đói, giảm nghèo.
![]() |
| Một Tổ hợp tác sản xuất riềng tại Nghệ An (Ảnh: BT) |
Về hợp tác xã, ước tính đến 31/12/2021, cả nước có khoảng 18.327 hợp tác xã nông nghiệp và 79 Liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp. Như vậy, sau 20 năm thực hiện Nghị quyết 13, số lượng hợp tác xã nông nghiệp tăng 12.569 hợp tác xã.
Nếu so với thời điểm 31/12/2013, khi Luật Hợp tác xã có hiệu lực thì số lượng hợp tác xã nông nghiệp cả nước tăng khoảng 7.917 hợp tác xã. Từ năm 2013 đến nay, số lượng hợp tác xã nông nghiệp tăng nhanh, trung bình mỗi năm tăng gần 800 hợp tác xã, giai đoạn 2017-2021 cao gấp hơn 3 lần giai đoạn trước đó (2012-2016). Không chỉ tăng nhanh về số lượng, mà chất lượng và hiệu hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp cũng đã được cải thiện. Tỷ lệ các hợp tác xã nông nghiệp được đánh giá xếp loại khá, tốt đã tăng từ 10% (năm 2013) lên 33% (hết năm 2016) và trên 60% năm 2020.
Đáng chú ý, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã đã được nâng lên. Điều này thể hiện qua việc, đến nay, cả nước có 2.297 hợp tác xã nông nghiệp đã thành lập doanh nghiệp trong hợp tác xã và 2.200 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số trong sản xuất, tương ứng bằng 13% và 12% tổng số hợp tác xã nông nghiệp cả nước. Đặc biệt đã có trên 4.339 hợp tác xã đảm nhận bao tiêu nông sản, bằng 24,5% tổng số hợp tác xã nông nghiệp, trong khi đó, tỷ lệ này trước năm 2015 chỉ là 5-7%.
Cùng với kết quả trên, mỗi hợp tác xã nông nghiệp cung cấp từ 7-16 dịch vụ cho thành viên và hộ nông dân (cung ứng giống, vật tư phân bón, bảo vệ thực vật; làm đất, tưới tiêu, công nghệ sản xuất; thu hoạch; sơ chế, bảo quản). Các hoạt động dịch vụ của hợp tác xã đã góp phần làm tăng thu nhập cho các hộ thành viên trung bình 20%. Qua đó thể hiện đúng bản chất của hợp tác xã, khẳng định được vị trí, vai trò của hợp tác xã trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Trong tổng số trên 5.000 sản phẩm OCOP cả nước, có 39% số sản phẩm thuộc về các tổ hợp tác, hợp tác xã.
Số hợp tác xã liên kết hiệu quả với doanh nghiệp chưa nhiều
Bên cạnh những kết quả đạt được, theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, tuy số lượng hợp tác xã thành lập mới tăng mạnh nhưng số hợp tác xã hoạt động có hiệu quả còn thấp và thiếu bền vững. Quy mô thành viên và doanh thu của các hợp tác xã nông nghiệp còn nhỏ. Số lượng các hợp tác xã có khả năng liên kết hiệu quả với doanh nghiệp, chế biến và tiêu thụ nông sản cho thành viên hợp tác xã và nông dân cũng chưa nhiều, mới đạt 24% tổng số hợp tác xã.
Thứ nữa, Nghị quyết số 13 đặt ra mục tiêu 10 năm sau (đến năm 2010) đưa kinh tế tập thể, hợp tác xã thoát khỏi những yếu kém, tuy nhiên đến nay mục tiêu này mới cơ bản được hoàn thành. Cả nước vẫn còn 985 hợp tác xã nông nghiệp ngừng hoat động chưa giải thể được.
Trong khi đó, một số hợp tác xã tuy đã đăng ký tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã năm 2012 nhưng không chuyển đổi được mô hình hoạt động nên hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp. Tình trạng thành lập hợp tác xã không xuất phát từ nhu cầu của hộ nông dân mà để hoàn thành tiêu chí nông thôn mới hoặc để thụ hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước vẫn còn. Cơ chế chính sách ban hành nhiều nhưng chưa phù hợp với thực tế, thiếu nguồn lực thực hiện.
Bên cạnh đó, bộ máy quản lý Nhà nước về hợp tác xã nông nghiệp ở một số địa phương còn yếu và thiếu; đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Còn thiếu đội ngũ tư vấn, phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở địa phương để giúp xây dựng phương án kinh doanh, cung cấp thông tin thị trường, khoa học công nghệ, liên kết sản xuất, thương mại sản phẩm,…
Đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực, thu hút cán bộ cho hợp tác xã
Để từng bước đưa hoạt động của kinh tế tập thể, hợp tác xã ngày càng phát huy vai trò, hiệu quả, đóng góp cho sự phát triển của ngành nông nghiệp, Bộ NN&PTNT cho rằng, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách, đồng thời, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Luật Hợp tác xã, cần cụ thể trong Luật các chương, điều quy định riêng cho phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Hiện nay, Bộ NN&PTNT đang nghiên cứu, tham mưu trình Chính phủ xây dựng Nghị quyết về phát triển hợp tác xã nông nghiệp phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Trong đó, tập trung đề xuất các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Bố trí nguồn ngân sách riêng để hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp, nhất là hỗ trợ về hạ tầng, máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh của hợp tác xã.
Cũng theo Bộ NN&PTNT, để tạo thêm nội lực cho các hợp tác xã nông nghiệp, cần đẩy mạnh công tác đào tạo nhân lực, nhất là thu hút cán bộ, nhân lực trẻ đã qua đào tạo, có kiến thức về làm việc cho hợp tác xã; hợp tác, liên kết đưa lao động hợp tác xã nông nghiệp đi học tập, lao động nước ngoài.
Cùng với các giải pháp trên, khuyến khích các hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm. Tăng cường hỗ trợ hạ tầng máy móc nhất là kho tàng bảo quản, sơ chế, chế biến, đóng gói, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng công nghệ số, tự động vào sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của các hợp tác xã, nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Đặc biệt, để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, cần tạo điều kiện để hợp tác xã nông nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị nông sản; khuyến khích, hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp tham gia phát triển vùng nguyên liệu và hình thành liên kết chuỗi giá trị ngành hàng nông sản, đồng thời, xây dựng mã số vùng trồng gắn với phát triển vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Đối với các địa phương, Bộ NN&PTNT đề nghị cần thí điểm và nhân rộng mô hình hợp tác xã nông nghiệp hiệu quả phù hợp với các điều kiện vùng, miền. Giải thể dứt điểm các hợp tác xã nông nghiệp đã ngừng hoạt động. Tập trung tháo gỡ khó khăn để các hợp tác xã nông nghiệp yếu kém củng cố tổ chức lại hoạt động, sản xuất kinh doanh./.


