07/03/2026
x
+
aa
-

Tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế đối với đầu tư nước ngoài

(ĐCSVN) - Thực tiễn cho thấy, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Đạt được những thành tựu như vậy, có đóng góp lớn của việc xây dựng toàn diện hệ thống các chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp FDI hoạt động tại Việt Nam.

Chính sách thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng hoàn thiện.
 (Ảnh minh họa).

Chính sách thuế ngày càng hoàn thiện

Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trong từng giai đoạn phát triển, Luật Thuế TNDN đã góp phần tạo môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả, khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, phát huy tốt vai trò định hướng thu hút đầu tư, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo cơ sở vững chắc cho nền kinh tế phát triển bền vững.

Trong quá trình thực hiện, bên cạnh cải cách các chính sách ưu đãi thuế TNDN, việc Quốc hội Việt Nam nhiều lần điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế TNDN đã giúp môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể, mức thuế suất thuế TNDN từ 32% năm 1997 đã giảm xuống còn 28% năm 2003 và tiếp tục giảm còn 25% từ năm 2009.

Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2004, với mục tiêu đẩy mạnh thu hút vốn ĐTNN, chính sách ưu đãi đầu tư đối với khu vực có vốn ĐTNN đã dành mức ưu đãi cao hơn hẳn cả thuế suất, thời gian miễn thuế, giảm thuế so với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Cụ thể, đối với khu vực có vốn ĐTNN, tuỳ theo lĩnh vực, địa bàn đầu tư, doanh nghiệp được áp dụng thuế suất ưu đãi 10%, 15% và 20% và miễn, giảm thuế tương ứng, trong đó mức miễn thuế tối đa là 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo.

Giai đoạn từ năm 2004 đến nay, thời kỳ này các nhà ĐTNN được hưởng mức giá dịch vụ đầu vào bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước. Việc Quốc hội ban hành Luật thuế TNDN số 09/2003/QH11 ngày 17/6/2003 là một trong những văn bản luật đầu tiên thiết lập chế độ đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa ĐTNN và đầu tư trong nước, góp phần tạo lập cơ sở pháp lý đáp ứng điều kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tạo bước tiến mới về cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng, thuận lợi và hấp dẫn hơn. Theo đó chính sách thuế TNDN quy định tại Luật thuế TNDN số 09/2003/QH11 và các văn bản hướng dẫn đã quy định áp dụng mức thuế suất thuế TNDN và mức ưu đãi miễn thuế, giảm thuế thống nhất cho tất cả các loại hình doanh nghiệp. Đồng thời sau khi Luật thuế TNDN năm 2003 có hiệu lực thi hành thì các quy định về thuế TNDN bổ sung và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã được bãi bỏ, điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Việt Nam trong việc khuyến khích đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Tiếp đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, ngày 13/6/2008, Quốc hội ban hành Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 thay thế cho Luật Thuế TNDN số 09/2003/QH11. Việc cải cách chính sách ưu đãi thuế tại Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và các văn bản hướng dẫn thực hiện từ 01/01/2009, đã tạo sự chuyển biến tích cực trong phân bổ nguồn lực, thu hẹp diện ưu đãi theo ngành, lĩnh vực để khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tập trung vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm hoặc lĩnh vực xã hội hoá.

Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN, có thêm nhiều ưu đãi cho ĐTNN. Luật này đã làm chuyển biến tích cực trong phân bổ nguồn lực, thu hẹp diện ưu đãi theo ngành, lĩnh vực để khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tập trung vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hạ tầng cơ sở… Với các cải cách thuế có tính bước ngoặt nêu trên, giai đoạn từ năm 2004 - 2011, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã tăng nhanh chóng với 9.500 dự án đầu tư, vốn đăng ký đạt 175 tỷ USD (gấp 3,2 lần giai đoạn 1988-2003), vốn thực hiện đạt 61,8 tỷ USD (gấp 2,3 lần giai đoạn 1988-2003) và đặc biệt, từ năm 2008 số vốn ĐTNN thực hiện hàng năm đều đạt từ 10 tỷ USD trở lên.

Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu số 45/2005/QH11 ra đời đã tạo lập khuôn khổ pháp lý trong việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, góp phần tạo nên một môi trường đầu tư chung và thuận lợi cho cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Sự phát triển mạnh của khu vực doanh nghiệp FDI là một trong những thước đo đánh giá sức hấp dẫn của môi trường đầu tư của Việt Nam. Ngoài việc góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, việc gia tăng xuất khẩu của khối các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là gia tăng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của khu vực này là rất đáng kể. Một trong các yếu tố góp phần vào việc gia tăng liên tục của khu vực công nghiệp và xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là chính sách ưu đãi được quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Đầu tư nước ngoài, và các văn bản hướng dẫn thi hành; như: miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công cho nước ngoài và khi xuất trả sản phẩm cho phía nước ngoài được miễn thuế xuất khẩu. Hàng hóa xuất khẩu ra ngước ngoài để gia công cho phía Việt Nam được miễn thuế xuất khẩu và khi nhập khẩu trở lại được miễn thuế nhập khẩu trên phần trị giá của hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài để gia công theo hợp đồng; Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa để tạo tài sản cố định đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, lĩnh vực khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; đối với dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA; Miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm kể từ ngày bắt đầu sản xuất đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của các dự án đầu tư và lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Chính sách hoàn thuế nhập khẩu và không thu thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm xuất khẩu được xác định là sản xuất toàn bộ từ nguyên liệu nhập khẩu....

Việc trở thành thành viên chính thức của WTO cũng như việc tham gia ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI mở rộng thị phần ra bên ngoài, tham ra sâu hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, việc thực hiện cắt giảm thuế quan hàng năm theo các cam kết trong WTO và trong khu vực ASEAN đối với các nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được đã tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp FDI nói riêng và doanh nghiệp nói chung giảm chi phí đầu vào trong sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước so với hàng nhập khẩu.

Với chính sách ưu đãi thuế xuất nhập khẩu nêu trên đã và đang củng cố lòng tin cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như công nghệ sản xuất hiện đại vào Việt Nam. Hiện nay, mặc dù không còn duy trì một chính sách ưu đãi có phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng việc quan tâm, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài nhanh chóng, hiệu quả thông qua các buổi tọa đàm, đối thoại trực tiếp với các Hiệp hội, doanh nghiệp ĐTNN tại Việt Nam hoặc trả lời trực tiếp bằng văn bản để giải quyết các vướng mắc về thuế trong quá trình điều chỉnh chính sách xuất nhập khẩu, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã đóng góp một cách tích cực vào tăng trưởng kinh tế nói chung và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi tại Việt Nam cho các doanh nghiệp FDI nói riêng.

Tạo nên một môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn luôn là một mục tiêu mà Chính phủ hướng tới với nỗ lực rất cao vì cải thiện môi trường đầu tư sẽ khuyến khích được các nguồn lực trong và ngoài nước tập trung cho đầu tư, phát triển kinh tế vì vậy, trong thời gian tới, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tiếp tục được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để khắc phục những bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện nhằm tạo nên một hành lang pháp lý minh bạch và thuận tiện hơn rõ ràng hơn nữa, hiệu quả hơn nữa đối với hoạt động xuất nhập khẩu để không những khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, cải thiện tính cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế…

Tác động của chính sách thuế tới thu hút đầu tư nước ngoài

Với những chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng được quan tâm, nên ĐTNN đã gia tăng qua từng năm. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nếu như trong năm 2004, cả nước có chỉ có 679 dự án đầu tư được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 2,08 tỷ USD, thì trong năm 2015, số dự án đầu tư được cấp giấy phép mới lên tới 2.013, với tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 22,76 tỷ USD. Năm 2016, tuy tình hình kinh tế thế giới và trong nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/5/2016 cũng đã thu hút được 907 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7,5669 tỷ USD, đồng thời có 425 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 2,5921 tỷ USD. Như vậy, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 10,159 tỷ USD.

Với sự gia tăng hàng năm, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Khu vực doanh nghiệp FDI đóng góp vào thu ngân sách nhà nước ngày càng lớn. Nếu thu ngân sách nhà nước từ khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong 5 năm (2006 - 2010) đạt 215.672 tỷ đồng, thì trong năm 2015, con số này đã là 128.000 tỷ đồng. Năm 2016, tính từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2016, thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã đạt tới 60,1 nghìn tỷ đồng. Có thể thấy, với các chính sách ưu đãi về thuế, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn đổ vào Việt Nam, tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối doanh nghiệp này cũng ngày càng cao.

Chủ trương khuyến khích ĐTNN hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực ĐTNN chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô. Từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2012. Năm 2015, nếu không kể dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 111,3 tỷ USD, trong khi đó, khu vực trong nước ước tính đạt 47,3 tỷ USD.

ĐTNN làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo. ĐTNN tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. ĐTNN còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước sản xuất thay vì phải nhập khẩu như trước đây.

ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 58,4% vốn ĐTNN tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng với trình độ công nghệ cao hơn mặt bằng chung của cả nước. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng của khu vực ĐTNN đạt bình quân gần 18%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn ngành. Khu vực ĐTNN đã tạo ra gần 45% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của nền kinh tế như viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng... ĐTNN cũng đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án đầu tư vào phát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạ tầng yếu kém, lạc hậu ở một số địa phương. Khu vực ĐTNN tạo ra khoảng 3 triệu lao động, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Doanh nghiệp ĐTNN được xem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độ của công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lực quản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài…

Hoàn thiện chính sách thuế trong bối cảnh hội nhập

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường thu hút ĐTNN, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh cải cách và hiện đại hoá các lĩnh vực quản lý Nhà nước, trong đó lĩnh vực thuế là một trong những ưu tiên hàng đầu. Để tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế, cải cách thủ tục hành chính và quản lý thuế, cần nghiên cứu xây dựng hệ thống thuế, phí, lệ phí để đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, góp phần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, khuyến khích thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế và ĐTNN vào Việt Nam. Đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế.

Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế và có khả năng huy động đầy đủ, chủ động, hợp lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Mở rộng cơ sở thuế, áp dụng mức thuế suất hợp lý, đảm bảo công bằng, bình đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; tạo động lực khuyến khích sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy đầu tư, xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, đồng thời bảo hộ có chọn lọc theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đơn giản hóa hệ thống chính sách ưu đãi thuế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, chống thất thoát, gian lận thuế.

Trong hệ thống các ưu đãi đầu tư hiện hành thì chính sách thuế TNDN là nhân tố quan trọng mang tính cạnh tranh giữa các quốc gia. Do đó, để góp phần thu hút nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam chủ trương cải cách chính sách thuế TNDN trong giai đoạn tới sẽ tập trung điều chỉnh giảm mức thuế suất chung theo lộ trình phù hợp để thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Bổ sung quy định cụ thể rõ ràng về các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; bổ sung các quy định để bao quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh tế thị trường hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thực hiện Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020, nghiên cứu để xây dựng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài hơn nữa, phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay và trong tương lai.

Sửa đổi, bổ sung thuế giá trị gia tăng theo hướng giảm bớt số lượng nhóm hàng hóa dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giảm bớt nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 5%. Bổ sung quy định để xác định đúng cơ chế thu đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mới phát sinh theo sự phát triển của kinh tế thị trường; nghiên cứu đến năm 2020 áp dụng cơ bản một mức thuế suất. Hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới cơ bản thực hiện phương pháp khấu trừ thuế. Quy định về ngưỡng doanh thu để áp dụng hình thức kê khai thuế giá trị gia tăng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và thông lệ quốc tế.

Để đảm bảo chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi đầu tư hiệu quả đáp ứng được mục tiêu và yêu cầu đặt ra, việc xây dựng các chính sách ưu đãi cần được xem xét trong bối cảnh phát triển kinh tế tổng thể của cả nước. Việc ban hành chính sách mới, trong đó có chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi đầu tư cần tuân thủ nghiêm các nguyên tắc, các cam kết mà Việt Nam đã cam kết thực hiện với các tổ chức quốc tế, theo đó mặc dù cần trao đổi và tìm kiếm giải pháp để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn ĐTNN, tuy nhiên việc xây dựng các chính sách ưu đãi cần đảm bảo đúng mục tiêu công bằng và không có sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước.

Do tính chất thiếu đồng bộ giữa các hệ thống văn bản pháp luật hiện nay nên nhiều khi quy định về chính sách ưu đãi thuế, ưu đãi đầu tư ngoài việc được quy định tại các văn bản chuyên ngành thì còn có nhiều hệ thống văn bản khác cũng quy định chính sách ưu đãi thuế, tài chính, đầu tư. Vì vậy, để khắc phục tính dàn trải, phức tạp của chính sách ưu đãi thuế đồng thời tăng tính minh bạch của chính sách thuế thì các cơ quan khi xây dựng chính sách, quy định về ưu đãi thuế nên được tập trung trong các văn bản qui phạm pháp luật về thuế, tránh tình trạng ưu đãi thuế được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác.

Để chính sách ưu đãi ĐTNN về thuế thực sự có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo đúng định hướng của Nhà nước, trong những năm tới, các cơ quan chức năng cần rà soát lại toàn bộ hệ thống ngành kinh tế quốc dân và địa bàn cần khuyến khích đầu tư trong cả nước; nghiên cứu để xây dựng một danh mục lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực. Trên cơ sở danh mục này, các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về thuế, tài chính, đất đai, tín dụng ... sẽ quy định cụ thể mức ưu đãi, hình thức ưu đãi, quy trình thủ tục thực hiện ưu đãi mà không quy định thêm lĩnh vực, địa bàn ưu đãi…

Tấn Vũ - Đặng Hiếu

Other news

Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là 1 trong những đối tác quan trọng hàng đầu, mong muốn tiếp tục tăng cường hợp tác song phương sâu rộng, vì lợi ích của nhân dân hai nước.
Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Đoàn đại biểu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
Tổng Bí thư khẳng định Việt Nam luôn ủng hộ mạnh mẽ Lào trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, sẵn sàng dành ưu tiên cao nhất hỗ trợ Lào triển khai các vấn đề chiến lược trong nhiệm kỳ mới.
Việt Nam góp phần thúc đẩy kinh tế số và an ninh lương thực ASEAN
Việt Nam đang được xem là một nhân tố tiềm năng mạnh mẽ cho Cộng đồng Kinh tế ASEAN nhờ vào năng lực cạnh tranh vượt trội trong sản xuất và chế tạo hàng hóa.
Liên hợp quốc sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới
Tổng Thư ký António Guterres khẳng định LHQ sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, nhất là hỗ trợ triển khai các cam kết khí hậu, SDGs và cải cách tài chính toàn cầu.
Tổng Bí thư Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước CHDCND Triều Tiên
Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tới Triều Tiên là dấu mốc quan trọng, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác song phương giữa hai Đảng, hai nước.
Top