Tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế tập thể và hợp tác xã
Đó là các con số nổi bật được đề cập tới tại Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 của Liên minh hợp tác xã Việt Nam (LMHTXVN).
![]() |
| Chuyển đổi số trong các HTX đang được triển khai khá hiệu quả, đặc biệt trong 2022 (Ảnh: PV) |
HTX, THT, LHHTX tập trung theo ngành nông nghiệp vẫn là chủ yếu
Cũng theo Báo cáo, cả nước giải thể 281 HTX yếu kém (222 HTX nông nghiệp, chiếm 79%; 59 HTX phi nông nghiệp, chiếm 21%). Các HTX thu hút 6,93 triệu thành viên là hộ gia đình, chủ yếu ở địa bàn nông thôn và 2,58 triệu lao động; tổng số vốn điều lệ đạt 54,15 nghìn tỷ đồng, bình quân 1,86 tỷ đồng/HTX; tổng giá trị tài sản đạt 187,25 nghìn tỷ đồng, bình quân 6,5 tỷ đồng/HTX, tăng 6,2% so với năm 2021.
Về tổ hợp tác (THT), năm 2022, cả nước thành lập mới 3.531 THT. Các THT thu hút 1,8 triệu thành viên là hộ gia đình (bình quân 15 thành viên/THT); doanh thu bình quân của 294,8 triệu đồng/năm/HTX. Hoạt động của các THT được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực, huy động vốn góp từ các thành viên; liên kết, hỗ trợ nhau sản xuất, kinh doanh; hình thức hoạt động đa dạng như: hội quán, câu lạc bộ ngành nghề,...; góp phần giải quyết vấn đề việc làm, tăng thu nhập cho thành viên.
Về liên hiệp hợp tác xã (LHHTX), năm 2022, cả nước thành lập mới 17 LHHTX, đều có phương án sản xuất, kinh doanh, liên kết chuỗi giá trị giữa các HTX, doanh nghiệp, chủ yếu là tiêu thụ sản phẩm. Các LHHTX thu hút 750 thành viên, tạo việc làm cho 39.750 lao động; doanh thu bình quân của 01 LHHTX là 258 tỷ đồng/năm, lãi bình quân 8,9 tỷ đồng/năm. 43% số LHHTX hoạt động hiệu quả, phát triển theo hướng liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa quy mô lớn của địa phương; tác động tích cực trong việc liên kết giữa các HTX thành viên với các doanh nghiệp, tập đoàn lớn; tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm của HTX thành viên.
![]() |
| Tính đến thời điểm hiện tại, cả nước có 29.021 HTX, trong đó có 19.395 HTX nông nghiệp (Ảnh: PV) |
Với các hoạt động phân theo ngành, lĩnh vực, Báo cáo của LMHTXVN nêu rõ, tính đến thời điểm hiện tại, cả nước có 29.021 HTX, trong đó có 19.395 HTX nông nghiệp; 2.448 HTX công nghiệp – thủ công nghiệp (CN-TTCN); 2.329 HTX thương mại dịch vụ (TMDV); 1.662 HTX giao thông vận tải (GTVT); 877 HTX xây dựng; 554 HTX môi trường; 1.181 Quỹ tín dụng nhân dân (4,0%); 575 HTX lĩnh vực khác; có 123.241 THT trong đó chủ yếu vẫn là THT nông nghiệp với gần 60%, còn lại phân đều và rải rác cho các lĩnh vực khác.
HTX, LHHTX, THT nông nghiệp phục hồi, đẩy mạnh sản xuất, chế biến sâu, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi ; sản xuất tập trung và chuyên canh theo mô hình cánh đồng mẫu lớn , kết hợp phát triển kinh tế nông nghiệp và dịch vụ , du lịch; áp dụng sáng tạo các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn (VietGap, hữu cơ, GlobalGap, JAS,…); liên kết chuỗi giá trị với doanh nghiệp để tăng sản lượng, năng suất, giảm chi phí đầu vào, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, sản xuất theo mô hình kinh tế tuần hoàn , cấp mã vùng trồng, cấp mã số nhà sơ chế, đóng gói và xuất khẩu .
HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp liên kết, đẩy mạnh sản xuất, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. HTX vận tải và cung ứng dịch vụ phục hồi khá nhanh, đầu tư thiết bị, phần mềm để quản trị hành trình, khách hàng và vận đơn hàng hóa, tích hợp thanh toán tự động, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ thành viên; mở rộng lĩnh vực hoạt động xe buýt, vệ sinh môi trường; phục hồi đăng ký lưu hành, bến bãi, luồng tuyến; lắp đặt hệ thống định vị GPS; đáp ứng quy định, yêu cầu, nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; tuyên truyền, cung cấp các văn bản pháp luật an toàn giao thông để thành viên áp dụng thực hiện; đổi mới phương thức quản lý và phong cách phục vụ hành khách. HTX thương mại, dịch vụ phục hồi, tăng doanh thu hơn 25% so với cùng kỳ năm 2021 nhờ đổi mới phương thức kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ, bám sát nhu cầu thị trường, đa dạng hóa sản phẩm hàng hóa; tổ chức các loại hình dịch vụ, liên kết duy trì ổn định đảm bảo nguồn hàng trong cung ứng nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra đối với các HTX, nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. HTX vệ sinh môi trường làm tốt công tác thu gom, vận chuyển rác thải trên địa bàn; mô hình HTX chợ hoạt động ổn định, tạo việc làm cho thành viên và người lao động. Quỹ tín dụng nhân dân phát triển thành viên mới, tăng dư nợ và hiệu quả cho vay.
Số lượng sản phẩm của HTX trong các loại hình được chứng nhận OCOP tăng, chiếm tỷ trọng cao so với tổng sản phẩm OCOP của địa phương. Xu hướng chuyển đổi số, sản xuất hữu cơ, phát triển các mô hình gắn với kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế chia sẻ. Theo khảo sát của Liên minh HTX cấp tỉnh, có 83,5% số HTX được khảo sát cho rằng, việc chuyển đổi số là cần thiết, 18,9% HTX đã có kế hoạch chuyển đổi số, 68% HTX sử dụng ít nhất một trong các phương thức giới thiệu và bán hàng trực tuyến; nhiều HTX nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ứng dụng kỹ thuật số để truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, đa dạng hoá sản phẩm và kênh tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu (FaceBook, Zalo, Fanpage, Group, Shopee, Sendo, Tiki, Ladaza, Voso, Postmart,...). Ngân hàng HTX Việt Nam và các quỹ tín dụng nhân dân đẩy mạnh chuyển đổi số trong cung ứng dịch vụ.
Một số loại hình HTX đẩy mạnh liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. HTX nông nghiệp, HTX du lịch gắn kết sản xuất nông nghiệp đã thực hiện kinh tế tuần hoàn, áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ hóa lý, các tiến bộ khoa học kỹ thuật; thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững trong bối cảnh của thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu, phù hợp định hướng của quốc gia trong phát triển bền vững. HTX thương mại dịch vụ, HTX nông nghiệp, HTX giao thông vận tải, Quỹ tín dụng nhân dân, HTX môi trường,… liên kết trong các công đoạn sản xuất của chuỗi giá trị sản phẩm.
Doanh thu của HTX tăng bình quân 5,6% so với năm 2021; phần lớn HTX, LHHTX có lãi tuy không cao do chi phí đầu vào tăng; nhiều HTX nông nghiệp đạt doanh thu 350 - 400 triệu đồng/ha; thu nhập của HTX phi nông nghiệp tăng 6,7-9,2% so với cùng kỳ năm 2021. Tiêu biểu, HTX nông nghiệp & phát triển nông thôn Hưng Thành (Yên Bái) đã liên kết thành công với HTX Măng tre Bát Độ Hưng Khánh và Công ty TNHH YAMAZAKI trong việc trồng, chăm sóc, thu mua, chế biến và xuất khẩu ổn định sang thị trường Nhật Bản; liên kết giữa Tập đoàn Lộc trời - An Giang với HTX; liên kết chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ chanh leo giữa các HTX, THT với Công ty Đồng Giao - Ninh Bình, HTX công nghệ cao Kim Long (Bình Dương), HTX Sunfood (Đà Lạt)…
Thiếu đồng đều trong phân bổ HTX, THT, LHHTX theo vùng
Cũng theo Báo cáo của LMHTXVN, số HTX thành lập mới phân theo vùng kinh tế được phân bổ chưa đồng đều ở các vùng. Cụ thể: Trung du miền núi phía Bắc 862 HTX, Đồng bằng sông Hồng 285 HTX, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 354 HTX, Tây Nguyên 205 HTX, Đông Nam bộ 154 HTX, Đồng bằng sông Cửu Long 327 HTX.; 8/8 vùng, miền đều có HTX thành lập mới và 6/8 vùng, miền có số lượng thành lập mới tăng so với năm 2021.
Tính đến nay, số lượng HTX ở vùng Trung du miền núi phía Bắc vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là các khu vực: Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long… Tỷ trọng lúa, gạo, hồ tiêu và rau quả do các HTX, LHHTX, THT và các thành viên sản xuất tại các vùng, miền chiếm khoảng 70% tổng sản lượng của cả nước; tỷ trọng các nông sản khác và thủy sản chiếm 25% - 30%; tỷ trọng sản xuất sản phẩm OCOP chiếm 45%; tỷ trọng dịch vụ vận tải hành khách và hàng hóa chiếm 29%; tỷ trọng doanh số bán lẻ hàng hóa tiêu dùng thiết yếu chiếm 28%; tỷ trọng dư nợ tín dụng ở địa bàn nông thôn chiếm 14%;...



