11/03/2026
x
+
aa
-

Vì những vụ mùa no ấm

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ X (nhiệm kỳ 2015-2020) đề ra 2 chương trình đột phá, trong đó có Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X (nhiệm kỳ 2015-2020) đề ra 2 chương trình đột phá, trong đó có Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Đến nay, chương trình này được triển khai thực hiện ra sao, hiệu quả như thế nào? Đó là nội dung trao đổi giữa phóng viên (PV) Báo Long An với Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) - Lê Văn Hoàng.

PV: Thưa ông, Chương trình Phát triển nông nghiệp ƯDCNC gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp được ngành NN&PTNT triển khai, đạt kết quả như thế nào?

Ông Lê Văn Hoàng: Từ chương trình đột phá của Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh, Sở NN&PTNT tham mưu UBND tỉnh ban hành Đề án Phát triển nông nghiệp ƯDCNC gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Thời gian qua, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện đề án đạt một số kết quả bước đầu: Rà soát và xác định diện tích, địa bàn quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ƯDCNC trên 3 cây và 1 con đến năm 2020 để tập trung thực hiện. Cụ thể, vùng lúa với tổng diện tích 20.000ha tại 26 xã thuộc các huyện: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Mộc Hóa và thị xã Kiến Tường; vùng rau với tổng diện tích 2.000ha tại 18 xã, phường thuộc các huyện: Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa và TP.Tân An; vùng thanh long với tổng diện tích 2.000ha tại 12 xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành; vùng chăn nuôi bò thịt tại 22 xã, thị trấn thuộc huyện Đức Hòa, Đức Huệ.

Bí thư Tỉnh ủy - Phạm Văn Rạnh (áo sọc) và Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Lê Văn Hoàng (giữa) trong Đoàn cán bộ tỉnh Long An tham quan mô hình trồng rau công nghệ cao ở Lâm Đồng. Ảnh: MHD

Các sở, ngành tỉnh, đầu mối là Sở NN&PTNT phối hợp các địa phương triển khai thực hiện các mô hình điểm trình diễn sản xuất ƯDCNC (mô hình của tỉnh). Theo đó, năm 2016 và 8 tháng năm 2017, tỉnh triển khai thực hiện 6 mô hình điểm sản xuất lúa với diện tích khoảng 50ha/mô hình (hỗ trợ giống xác nhận, sử dụng máy cấy lúa, san phẳng mặt ruộng bằng tia laser, phân bón, chế phẩm sinh học, trồng hoa sinh thái,...), lợi nhuận trong mô hình cao hơn bên ngoài từ 2-3 triệu đồng/ha.

Đối với cây rau, tỉnh triển khai thực hiện 7 mô hình điểm sản xuất rau với diện tích khoảng 1ha/mô hình (trong đó có hỗ trợ xây dựng nhà lưới, hệ thống tưới nước tự động, phân bón hữu cơ, thuốc sinh học,...), lợi nhuận trung bình trong mô hình cao hơn bên ngoài từ 1-3 triệu đồng/0,1ha. Trên cây thanh long, tỉnh cũng triển khai thực hiện 8 mô hình điểm sản xuất thanh long theo hướng VietGAP với diện tích khoảng 20ha/mô hình (hỗ trợ phân hữu cơ, nấm sinh học, bẫy côn trùng, máy băm cành thanh long, hỗ trợ thực hiện 1 mô hình điểm tưới nước tiết kiệm,...), lợi nhuận trung bình trong mô hình thực hiện năm 2016 cao hơn bên ngoài từ 4-7 triệu đồng/ha. Sở triển khai bước đầu thực hiện 2 mô hình điểm nuôi bò thịt ở huyện Đức Hòa và Đức Huệ (hỗ trợ đầu tư trang trại, gieo tinh nhân tạo, kỹ thuật chăm sóc,...).

Ngoài mô hình điểm của tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố trong vùng đề án cũng chủ động triển khai thực hiện mô hình điểm trình diễn của cấp huyện và tổ chức nhân rộng theo kế hoạch của tỉnh. Bên cạnh việc hỗ trợ cụ thể bằng kinh phí (Nhà nước hỗ trợ 30% kinh phí thực hiện, nhưng tổng số tiền hỗ trợ tối đa không quá 200 triệu đồng/mô hình), các cơ quan chuyên môn của tỉnh và huyện còn tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao khoa học - kỹ thuật, cung cấp tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc các loại cây, con,... hoàn toàn miễn phí bằng ngân sách nhà nước.

PV: Việc triển khai chương trình, đề án bước đầu không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc,... Ông có thể chia sẻ về vấn đề này?

Ông Lê Văn Hoàng: Đây là chương trình mới, lớn, mang tính lâu dài nên bên cạnh kết quả, chương trình cũng gặp một số khó khăn, lúng túng. Đó là tiến độ, kết quả thực hiện chương trình còn chậm so với yêu cầu, nhất là sự phối, kết hợp của các ngành, địa phương, hội, đoàn thể,... trong việc thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính quyền đến người dân. Một số thành viên, hội viên của các tổ chức chính trị - xã hội ở một số địa phương chưa tích cực tham gia. Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp dù được quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung, nhiều nơi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, điện phục vụ sản xuất.

Kế hoạch triển khai đề án trong năm 2017 ban hành chậm (tháng 4/2017) nên một số nội dung trong kế hoạch về việc thực hiện mô hình điểm, nhất là mô hình điểm trên cây lúa bị động, do tính chất mùa vụ nên không kịp triển khai cho vụ Hè Thu năm 2017, các địa phương phải chuyển sang thực hiện trong vụ Đông Xuân 2017-2018. Đồng thời, việc xây dựng các mô hình lúa trong vụ Hè Thu 2017 cũng gặp khó khăn do thời tiết không thuận lợi, sâu, bệnh nhiều, chi phí sản xuất tăng.

Việc phát triển kinh tế tập thể (hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT)) còn nhiều khó khăn, bất cập trong chính sách hỗ trợ, tiếp cận vốn vay. Bên cạnh một số HTX, THT hoạt động hiệu quả, vẫn còn khá nhiều HTX, THT hoạt động kém hiệu quả, cầm chừng. Ngoài ra, một số người dân vào HTX, THT tham gia mô hình sản xuất ƯDCNC chủ yếu để được nhận sự hỗ trợ từ Nhà nước, chưa tự nguyện.

Đối với cây thanh long, một số địa phương chưa thật sự quan tâm, chưa vận động nông dân đã vội đưa vào danh sách đăng ký thực hiện mô hình, do đó, việc tổ chức khảo sát gặp khó khăn và mất nhiều thời gian để thống nhất danh sách tham gia mô hình. Việc hỗ trợ máy băm dây, ủ cành nhánh thanh long khó triển khai thực hiện vì việc thu gom cành nhánh, băm và ủ phân tốn nhiều công lao động, trong khi lao động hiện nay tại huyện Châu Thành rất khan hiếm, giá cao nên nông dân chưa tích cực tham gia.

Một số mô hình trình diễn sản xuất ƯDCNC cho hiệu quả nhưng việc nhân rộng còn gặp khó khăn do tỷ lệ vốn đối ứng của người dân trong các mô hình còn cao (Nhà nước hỗ trợ 30%, nông dân phải đối ứng 70%); về thủ tục thanh toán, phải xuất hóa đơn 100% chi phí. Mặt khác, chưa có chế độ, kinh phí hỗ trợ, bồi dưỡng cán bộ xã, ấp tham gia thực hiện đề án. Bên cạnh đó, nguồn vốn từ chương trình lúa nước được phân bổ từ đầu năm, các địa phương đã bố trí sử dụng cho các công trình thủy lợi nên khó cân đối triển khai thực hiện các mô hình tại địa phương.

PV: Thưa ông, những giải pháp nào để khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi chương trình đột phá?

Ông Lê Văn Hoàng: Trước những khó khăn trên, thời gian tới, để chương trình đạt kết quả cao, chúng tôi tập trung thực hiện các giải pháp:

Trước tiên là đẩy mạnh công tác tuyên truyền về Đề án Phát triển nông nghiệp ƯDCNC gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp bằng nhiều kênh, nhiều hình thức đến chính quyền địa phương, ban, ngành, đoàn thể các cấp và nông dân. Chúng tôi sẽ phối hợp các cơ quan truyền thông tăng cường thông tin, tuyên truyền chủ trương của tỉnh về ƯDCNC trong sản xuất nông nghiệp, về an toàn thực phẩm định kỳ trên Báo Long An, Đài Phát thanh và Truyền hình Long An, đài truyền thanh và cụm loa đài ở cơ sở.

Song song đó, sở sẽ tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp ƯDCNC tại kỳ họp cuối năm 2017. Đồng thời, tăng cường kêu gọi đầu tư, xây dựng doanh nghiệp nông nghiệp ƯDCNC; kêu gọi doanh nghiệp ký kết hợp đồng cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ các địa phương tìm đầu ra ổn định với giá cả phù hợp.

Triển khai thực hiện xây dựng các mô hình và tổ chức nhân rộng theo kế hoạch được duyệt. Đối với thực hiện mô hình điểm: Phải đầu tư tập trung, không làm tràn lan, chọn từ 1-2 mô hình đầu tư hoàn chỉnh áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, hỗ trợ vật tư,... phát triển hoàn chỉnh thành một mô hình chuẩn, làm điểm để từ đó rút kinh nghiệm, nhân rộng trong các năm tiếp theo. Các địa phương lưu ý chủ động thực hiện mô hình điểm của huyện và nhân rộng theo chỉ tiêu được giao.

Về hỗ trợ doanh nghiệp, sở hướng dẫn doanh nghiệp đăng ký doanh nghiệp nông nghiệp ƯDCNC và tổ chức khảo sát các doanh nghiệp đã đăng ký; hướng dẫn các doanh nghiệp, HTX đăng ký áp dụng quy trình GAP.

PV: Ông có niềm tin gì về thành công của chương trình trong nhiệm kỳ này, khi ngành nông nghiệp liên tục gặp khó khăn do biến đổi khí hậu, thời tiết bất thường, chăn nuôi heo, gà,... bị giảm sút mạnh?

Ông Lê Văn Hoàng: Thời gian qua, sản xuất nông nghiệp cả nước nói chung và Long An nói riêng luôn chịu sự tác động bất lợi của thời tiết, rủi ro, dịch bệnh; phần lớn người dân sản xuất theo phương pháp truyền thống, phân tán, nhỏ, lẻ, chủ yếu là theo hình thức sản xuất hộ gia đình; kết cấu hạ tầng chưa được đầu tư đúng mức; áp dụng công nghệ mới chưa rộng rãi nên chất lượng nông sản không cao, chưa bảo đảm an toàn thực phẩm và chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Bên cạnh đó, mô hình hợp tác giữa các bên tham gia còn hạn chế, thiếu vai trò điều phối tạo sự kết hợp và độ tin cậy lẫn nhau nên tình trạng phá vỡ hợp đồng thường xảy ra khiến phương thức tiêu thụ theo mô hình hợp tác giữa các bên chưa trở thành phương thức chủ đạo trong hệ thống tiêu thụ nông sản của tỉnh. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh xác định Chương trình Phát triển nông nghiệp ƯDCNC gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp là 1 trong 2 chương trình đột phá. Các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà chương trình hướng đến là xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp ƯDCNC phát triển toàn diện gắn với tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nâng cao thu nhập, đời sống nông dân.

Máy cấy lúa trên cánh đồng xã Kiến Bình, huyện Tân Thạnh

Sau 2 năm triển khai thực hiện chương trình, kết quả bước đầu rất khả quan, nhiều mô hình sản xuất lúa, rau, thanh long cho hiệu quả cao, tạo sức lan tỏa, nhiều hộ dân tự đầu tư xây dựng nhà lưới, hệ thống tưới tiết kiệm,... Công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và giám sát bảo đảm an toàn được tăng cường, xác nhận sản phẩm chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, nhiều hợp đồng cung ứng sản phẩm sạch cho các nhà phân phối trong và ngoài tỉnh được thực hiện, góp phần tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.

Điều đáng nói là công tác thông tin, tuyên truyền làm chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ, công chức và người lao động, nông dân về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa của chương trình, tạo sự thống nhất, đồng thuận cao trong việc triển khai xây dựng và phát triển vùng sản xuất rau, thanh long, lúa và bò thịt ƯDCNC trên địa bàn tỉnh. Với hiệu quả thiết thực trong thời gian qua, tôi tin rằng, với sự quyết tâm cả hệ thống chính trị các cấp và nhân dân, chương trình sẽ thành công và mang lại hiệu quả cao, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp ƯDCNC của tỉnh.

PV: Theo ông, chương trình đột phá này có đáp ứng được mong muốn lớn nhất của nông dân là giải quyết đầu ra cho hàng hóa nông sản không?

Ông Lê Văn Hoàng: Phát triển nông nghiệp ƯDCNC là giải pháp đột phá thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Các đối tượng 3 cây (lúa, thanh long, rau) và 1 con (bò thịt) được chọn để thực hiện ƯDCNC với quan điểm xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh ƯDCNC nhằm phát huy lợi thế và tiềm năng của vùng kết hợp lựa chọn công nghệ tiên tiến và thích hợp theo đặc điểm, điều kiện sản xuất của địa phương nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả cao và bền vững. Bên cạnh các giải pháp về kỹ thuật, về đầu tư, công tác xúc tiến thương mại, việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chương trình nhằm tạo sự liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ, giải quyết đầu ra cho các sản phẩm an toàn, ƯDCNC. Nếu sản phẩm làm ra đạt các tiêu chuẩn bảo đảm an toàn thực phẩm, có tham gia chuỗi liên kết sản xuất và có địa chỉ để truy xuất nguồn gốc thì chắc chắn, vấn đề giải quyết đầu ra cho hàng hóa nông sản không còn khó khăn như hiện nay, sẽ mang đến cho nông dân những vụ mùa no ấm.

PV: Xin cảm ơn ông!

 Tỉnh rà soát và xác định diện tích, địa bàn quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ƯDCNC trên 3 cây và 1 con đến năm 2020 để tập trung thực hiện. Cụ thể, vùng lúa với tổng diện tích 20.000ha tại 26 xã thuộc các huyện: Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Mộc Hóa và thị xã Kiến Tường; vùng rau với tổng diện tích 2.000ha tại 18 xã, phường thuộc các huyện: Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa và TP.Tân An; vùng thanh long với tổng diện tích 2.000ha tại 12 xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành; vùng chăn nuôi bò thịt tại 22 xã, thị trấn thuộc huyện Đức Hòa, Đức Huệ.

Tấn Lộc (thực hiện)

Other news

Đánh thức tiềm năng với 55.000ha lúa phát thải thấp 
Từ những thành công bước đầu tỉnh Cà Mau kỳ vọng đến năm 2030 có 55.000ha lúa phát thải thấp theo Đề án “Một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp”.
Thúc đẩy chuyển đổi số để ngành Thủy sản phát triển bền vững 
Theo đánh giá của ngành chức năng, thời gian qua, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tại vùng ĐBSCL tăng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, xuất khẩu, góp phần tăng trưởng cho toàn ngành Nông nghiệp.
Hợp tác xã nông nghiệp Cần Thơ phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng 
(CT) - Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong tái cơ cấu ngành Nông nghiệp thành phố.
Phát huy thế mạnh sản xuất nông nghiệp của vùng ĐBSCL 
Là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm với lợi thế và thế mạnh về lúa gạo, trái cây, nuôi trồng thủy sản, nhưng ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu (BĐKH), biến động thị trường, chi phí sản xuất tăng...
Đề án 1 triệu héc-ta lúa mang lại nhiều kết quả tích cực sau hai năm triển khai 
(CTO) - Ngày 8-3, tại phường Vị Thanh (TP Cần Thơ), ông Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) chủ trì hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện Đề án phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao...
Top