25/08/2026
x
+
aa
-

Vì sao cần tầm soát ung thư đại trực tràng sớm?

Ung thư đại trực tràng là căn bệnh có tỷ lệ di truyền cao nhất trong ung thư. Ung thư đại trực tràng có yếu tố gia đình thường gặp ở người có bệnh lý đa polyp. Và ung thư đại trực tràng không có đa polyp thì thường gặp ở người mắc hội chứng Lynch.

(Ảnh minh họa)

Ung thư đại trực tràng di truyền cao

Tại Bệnh viện K đã ghi nhận nhiều trường hợp cả gia đình cùng mắc ung thư đại trực tràng.

Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó Trưởng khoa Ngoại bụng I, Bệnh viện K cho biết, gần đây, bác sĩ gặp trường hợp 12 tuổi đã mắc ung thư đại trực tràng. Bệnh nhi có tiền sử táo bón từ rất sớm.

Theo mẹ bệnh nhi, từ lúc em khoảng 7-8 tuổi đã xuất hiện đau bụng, siêu âm kết quả bình thường. Tới 12 tuổi, các cơn đau xuất hiện nhiều và bệnh nhi đi ngoài lẫn máu. Bệnh nhi được nội soi, kết quả nghi ngờ ung thư nên đã được chuyển tới Bệnh viện K điều trị.

Tại Bệnh viện K, bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư đại trực tràng và có chỉ định phẫu thuật. Sau đó, bệnh nhi phải điều trị hóa chất. Trước đó, cả ông nội và bác bệnh nhi đều mắc bệnh này và mất sớm.

Một trường hợp khác mắc ung thư đại trực tràng khi còn khá trẻ là bệnh nhân nam 16-17 tuổi. Bệnh nhân có triệu chứng đi ngoài ra máu nên được bố mẹ đưa đi khám. Không may cho trường hợp bệnh nhân này, ở thời điểm phát hiện, ung thư đại trực tràng đã di căn gan.

Khối u của bệnh nhân khá lớn, nguy cơ bán tắc ruột. Sau phẫu thuật, bệnh nhân phải truyền hóa chất. Bệnh nhân này cũng có yếu tố gia đình.

Theo bác sĩ Nam, ung thư đại trực tràng có yếu tố gia đình thường gặp ở người có bệnh lý đa polyp. Và ung thư đại trực tràng không có đa polyp thì thường gặp ở người mắc hội chứng Lynch.

Bệnh lý đại trực tràng đa polyp là do đột biến gene APC, gene này có vai trò ức chế sự hình thành của khối u sinh ra ở đại tràng, khi bị đột biến nó có thể diễn biến thành ung thư.

Theo chuyên gia, ung thư đại trực tràng là căn bệnh có tiên lượng tốt hơn so với các căn bệnh ung thư đường tiêu hóa khác.

Bác sĩ Hà Hải Nam.

Một số triệu chứng cảnh báo ung thư đại trực tràng là thay đổi thói quen đại tiện: lúc lỏng, lúc táo bón mà không rõ nguyên nhân, đi ngoài không hết, khuôn dẹt nhỏ, thay đổi hình dạng khuôn... Bệnh nhân có thể đi ngoài có nhầy lẫn máu hoặc đen nếu khối u ở đầu đại tràng.

Khi khối u phát triển, nó có thể lấp kín lòng đại tràng, trực tràng, gây ra tình trạng tắc ruột. Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như táo bón, đau bụng, đầy bụng…

Một số trường hợp mắc ung thư đại trực tràng có dấu hiệu mệt mỏi, thiếu sắt, da xanh xao, gầy sút, ăn kém, sốt không rõ nguyên nhân.

Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng, trong đó có chế độ ăn thiếu lành mạnh như ăn quá nhiều dầu mỡ, muối, thịt động vật, thức ăn lên men, thức ăn xông khói…

Các thức ăn này khiến cho quá trình nhu động của ruột bị cản trở (chậm lại). Quá trình tiêu hóa thức ăn chậm sẽ khiến các chất độc tiếp xúc lâu với niêm mạc, dẫn tới biến đổi cấu trúc tế bào, đặc biệt là biến đổi cấu trúc niêm mạc đại tràng có thể dẫn tới ung thư hóa đại trực tràng.

Một số bệnh lý khác cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng, thí dụ như viêm loét đại trực tràng mạn tính, bệnh crohn, các u lành tính (polyp kích thước lớn). Ngoài ra, người có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng cũng có nguy cơ cao hơn.

Phòng ngừa ung thư đại trực tràng

Để phát hiện ung thư đại trực tràng sớm, việc tầm soát có ý nghĩa rất quan trọng. Trong trường hợp gia đình có người mắc ung thư đại trực tràng thì người dân cần tầm soát căn bệnh này khi tới tuổi trưởng thành. Với người bình thường, khi còn trẻ tuổi nên tầm soát 3 năm/lần, với người từ 40 tuổi nên tầm soát 1 năm/lần.

Bác sĩ Nam cho biết đối với việc phòng ngừa ung thư đại trực tràng, dinh dưỡng là rất quan trọng. Người dân nên hạn chế ăn mỡ, thịt động vật; tăng cường ăn các loại chất xơ, hoa quả tươi; hạn chế ăn các loại thức ăn nhiều muối, thức ăn lên men, thịt xông khói; tránh lạm dụng rượu bia. Mọi người cũng cần tránh các chất gây đột biến gene nhiễm trong thức ăn.

Để phòng ngừa ung thư, ngoài ăn uống thì mọi người cũng cần phải tăng cường hoạt động thể chất.

Những người có người thân mắc các bệnh có tính di truyền như ung vú (nữ), đại trực tràng (nam), ung thư dạ dày... cần phải được tầm soát từ rất sớm. Tại nước ngoài, khoảng 15 tuổi, nhóm đối tượng này đã được khuyên đi tầm soát ung thư, Việt Nam hiện đang khuyến cáo 18 tuổi nên tầm soát.

Trường hợp bệnh nhân ung thư đại trực tràng có polyp sẽ chẩn đoán rất dễ dàng bằng nội soi. Với trường hợp ung thư đại trực tràng có yếu tố gia đình không có polyp sẽ rất khó sàng lọc. Lúc này, các chuyên gia sẽ phải dựa vào tiền sử bệnh và sàng lọc đột biến gene./.

Ung thư đại trực tràng là loại ung thư thường gặp nhất của đường tiêu hóa.

Tại Việt Nam, năm 2020 ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 5 về cả số ca mới mắc và tử vong trong các loại ung thư thường gặp sau ung thư gan, phổi, vú, dạ dày với 16.426 ca mới mắc (chiếm tỷ lệ 9%) và tử vong 8.524 ca (chiếm tỷ lệ 6,9%).

Theo Báo Nhân Dân

Other news

Bộ Y tế: Tăng cường giám sát, hạn chế thấp nhất ca tử vong do bệnh dại 
Theo thống kê, từ đầu năm 2026 đến hết tháng 6/2026, cả nước ghi nhận 34 ca tử vong do bệnh dại, riêng khu vực phía Nam ghi nhận 23 ca tử vong do bệnh dại.
Lạc nội mạc tử cung có liên quan đến sức khỏe tâm thần 
Phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh lạc nội mạc tử cung có tỷ lệ sử dụng thuốc chống trầm cảm và thuốc an thần cao hơn đáng kể so với những phụ nữ khác.
Chủ động tiêm ngừa, bảo vệ sức khỏe nhóm người có nguy cơ cao 
Theo các chuyên gia y tế, thời gian qua, ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhân mắc bệnh lý mạn tính khi nhiễm bệnh truyền nhiễm thường có diễn tiến nặng và nhiều biến chứng nguy hiểm, đặc biệt ở nhóm người chưa tiêm ngừa vaccine.
Lợi ích cho phụ nữ nông thôn khi tầm soát ung thư cổ tử cung tại trạm y tế 
Việc tổ chức khám phụ khoa và tầm soát ung thư cổ tử cung tại trạm y tế xã đã mang đến lợi ích thiết thực cho phụ nữ nông thôn. Điều đó giúp các chị tiếp cận dịch vụ y tế dễ dàng hơn, tiết kiệm chi phí đi lại và sớm phát hiện bệnh (nếu có).
Cách phòng viêm nhiễm phụ khoa 
BS.CKI Trần Thị Thu Hồng, Trưởng Khoa Sức khỏe sinh sản, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) TP Cần Thơ, cho biết: Phụ nữ cần khám phụ khoa định kỳ 1 năm/lần. Ngoài ra, khi có các dấu hiệu ngứa, hôi, ra huyết trắng nhiều... cần đi khám ngay.
Top