Chuyển đổi sinh kế bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu
(CTO) - Việc triển khai Nghị quyết 120/NQ-CP và Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030 đang thúc đẩy tư duy phát triển “thuận thiên”, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm phụ thuộc vào cây lúa, đa dạng hóa sinh kế theo 3 tiểu vùng sinh thái mặn - lợ - ngọt.
Ngày 20-3, tại TP Cần Thơ, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp Quỹ Bảo tồn Mekong (MCF) và các đối tác tổ chức Hội thảo “Chuỗi giá trị xanh - Đồng hành và phát triển”.

Đại biểu trình bày tham luận tại hội thảo.
ĐBSCL là vùng kinh tế sinh thái đặc biệt quan trọng, giữ vai trò trung tâm trong sản xuất lúa gạo, thủy sản và trái cây của Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sạt lở, suy thoái tài nguyên và áp lực chuyển đổi sinh kế đối với hàng triệu người dân, nhất là các nhóm dễ bị tổn thương. Trong bối cảnh đó, việc triển khai Nghị quyết 120/NQ-CP và Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030 đang thúc đẩy tư duy phát triển “thuận thiên”, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm phụ thuộc vào cây lúa, đa dạng hóa sinh kế theo 3 tiểu vùng sinh thái mặn - lợ - ngọt.
Theo MCF, hướng đi được đánh giá nhiều tiềm năng là phát triển các mô hình sinh kế dựa trên những loài cây bản địa như năn tượng, lác, tre và tràm. Các loài này không chỉ tạo thu nhập cho người dân mà còn góp phần phục hồi hệ sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp xanh như dệt, giấy, đồ gỗ, đồng thời tăng khả năng phòng hộ và thích ứng với biến đổi thích hậu...
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác hiệu quả, do sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều; hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng còn hạn chế khiến chi phí cao, giảm sức cạnh tranh. Ngoài ra, việc thiếu dữ liệu phân vùng và trữ lượng cũng khiến doanh nghiệp dè dặt trong đầu tư dài hạn. Trong khi đó, các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ bền vững như FSC hay quy định chống mất rừng (EUDR), đòi hỏi vùng nguyên liệu phải được tổ chức bài bản ngay từ đầu.

Sản phẩm đan đát từ cỏ năn tượng - mô hình thích ứng biến đổi khí hậu được trưng bày, trình diễn tại hội thảo.
Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận phát triển theo hướng “làm việc cùng thiên nhiên thay vì chống lại thiên nhiên”, thông qua các giải pháp khoa học và thực tiễn nhằm thúc đẩy chuyển đổi kinh tế tích cực với tự nhiên.
Tại hội thảo, các chuyên gia giới thiệu bản đồ phân vùng sinh thái và kết quả nghiên cứu về tiềm năng phát triển các loài cây lấy gỗ và sợi tại ĐBSCL. Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giám đốc quản lý Quỹ MCF, đây sẽ là cơ sở khoa học giúp địa phương và doanh nghiệp xác định vùng nguyên liệu, đồng thời tích hợp vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Các ý kiến tại hội thảo còn nhấn mạnh chuyển đổi xanh ở ĐBSCL khó đạt quy mô lớn nếu thiếu vai trò dẫn dắt của khu vực tư nhân. Doanh nghiệp được xem là lực đẩy quan trọng giúp chuyển hóa tiềm năng sinh thái thành thị trường, đầu tư, công nghệ và đầu ra ổn định. Ngược lại, để thu hút doanh nghiệp, cần hoàn thiện dữ liệu vùng nguyên liệu, hạ tầng và cơ chế liên kết rõ ràng. Nếu được đầu tư bài bản, các chuỗi giá trị dựa trên cây bản địa có thể đồng thời tạo thu nhập, phục hồi cảnh quan, tăng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và mở ra cơ hội tham gia các thị trường xanh. Đây cũng là hướng đi cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng gắn với chuyển đổi xanh và bảo tồn hệ sinh thái tại ĐBSCL.
Ngoài các phiên thảo luận chính sách và kỹ thuật, chương trình còn giới thiệu các mô hình sản xuất, chế biến và thương mại hóa sản phẩm từ nguyên liệu bản địa trong khuôn khổ trình diễn chuỗi giá trị xanh. Hội thảo nhằm mục tiêu thúc đẩy các mô hình sinh kế bền vững gắn với cây bản địa, đồng thời tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp và cộng đồng để hình thành chuỗi giá trị hướng đến xuất khẩu sản phẩm từ cây bản địa.
Tin, ảnh: HÀ VĂN - NHẬT TÂN

