23/06/2026
x
+
aa
-

Điều trị "cá thể hóa" cho bệnh nhân suy thận 

Bệnh thận mạn tính đang gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Việt Nam. Theo các chuyên gia đầu ngành, việc sàng lọc, chẩn đoán sớm và tuân thủ nguyên tắc điều trị "cá thể hóa" là chìa khóa cốt lõi để bảo tồn chức năng thận, ngăn ngừa biến chứng và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Hồi chuông cảnh báo 

Tổ chức Thận học Toàn cầu (KDIGO) định nghĩa bệnh thận mạn tính là những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận tồn tại kéo dài trên 3 tháng. Tại Việt Nam, nếu năm 2009 bệnh lý này chưa nằm trong nhóm 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu thì 10 năm sau đã ở vị trí thứ 8. Dự báo đến năm 2050, đây sẽ là 1 trong 5 căn bệnh gây tử vong cao nhất toàn cầu.

Bệnh nhân suy thận cần được điều trị cá thể hóa.

TS.BS Nghiêm Trung Dũng, Giám đốc Trung tâm Tiết niệu và Lọc máu (Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, mô hình bệnh thận mạn ở nước ta có điểm khác biệt lớn so với thế giới. Hiện nay, nhóm bệnh lý cầu thận nguyên phát vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất ở giai đoạn cuối. Tuy nhiên, dữ liệu lâm sàng gần đây cho thấy tổn thương thận thứ phát đang gia tăng áp đảo. Nhóm bệnh chuyển hóa như đái tháo đường, tăng huyết áp và biến cố tim mạch đồng mắc đang âm thầm tàn phá hệ thống mạch máu thận ngay từ giai đoạn sớm.

Đáng báo động, trong số gần 50.000 bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo chu kỳ tại nước ta, tỷ lệ người trẻ tuổi chiếm không nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ lối sống và chế độ dinh dưỡng hiện đại: lạm dụng thức ăn nhanh chứa hàm lượng muối cao, thức khuya kéo dài, lười vận động. Lối sống này dẫn đến hội chứng béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng acid uric và tăng huyết áp thứ phát ở người trẻ. Do tâm lý chủ quan, ít kiểm tra sức khỏe định kỳ, nên khi xuất hiện triệu chứng rầm rộ phải nhập viện, tổn thương thận của họ hầu hết đã tiến triển đến giai đoạn muộn.

"Bộ đôi vàng" trong chẩn đoán

Bác sĩ Nghiêm Trung Dũng nhấn mạnh, nếu được chẩn đoán sớm, khả năng điều trị bảo tồn bằng nội khoa và kiểm soát dinh dưỡng vô cùng rộng mở. Y học hiện đại có nhiều nhóm thuốc thế hệ mới giúp bảo vệ thận và tim mạch rất tốt, dễ dàng phối hợp thuốc hạ áp nhằm kiểm soát huyết áp mục tiêu, giảm áp lực nội cầu thận và làm chậm tối đa tốc độ xơ hóa nhu mô. Nhờ đó, bác sĩ có thể giúp người bệnh duy trì chức năng thận ổn định từ 20-30 năm mà chưa cần lọc máu. Ngược lại, phát hiện muộn khiến thời gian điều trị bảo tồn bị rút ngắn. Nhiều bệnh nhân khám lần đầu đã ở giai đoạn cuối, với các dấu hiệu nhiễm độc urê máu nặng, như: nôn mửa, phù nề, suy kiệt, buộc phải đặt catheter lọc máu cấp cứu ngay lập tức.

Để hiện thực hóa chiến lược chẩn đoán sớm, ngành y tế cần phối hợp liên chuyên khoa, chủ động sàng lọc nhóm nguy cơ cao (đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch, tiền sử gia đình). Về cận lâm sàng, các cơ sở y tế cần đồng bộ bộ đôi chỉ số: mức lọc cầu thận (chi phí thấp, triển khai đại trà) và tỷ lệ albumin/creatinine niệu. Đây là "bộ đôi vàng" giúp phát hiện tổn thương màng lọc cầu thận ở giai đoạn vi thể hiện, cần được ghi nhớ trong thực hành lâm sàng thường quy của bác sĩ nội tiết, tim mạch và chuyên khoa thận, tránh bỏ sót bệnh ở giai đoạn sớm.

Tối ưu hóa hiệu quả điều trị

Khi bệnh thận mạn đã tiến triển sang giai đoạn cuối, việc lựa chọn phương pháp điều trị thay thế phải dựa trên nguyên tắc "Lấy người bệnh làm trung tâm". Bác sĩ cần đánh giá toàn diện dựa trên chỉ định chuyên môn, hoàn cảnh, nghề nghiệp và nơi cư trú của bệnh nhân chứ không áp đặt phương pháp sẵn có của cơ sở y tế.

Hiện nay, có 3 giải pháp chính, trong đó ghép thận là phương pháp điều trị thay thế lý tưởng nhất về mặt sinh lý, giúp phục hồi chất lượng cuộc sống gần như bình thường. Việt Nam đã thực hiện thành công gần 10.000 ca. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là nguồn tạng hiến từ người cho chết não khan hiếm. Phương pháp thứ hai là lọc màng bụng (thẩm phân phúc mạc), tận dụng màng bụng làm màng lọc sinh học, có tính đồng điệu sinh học cao và bảo tồn tốt chức năng thận tồn dư. Phương pháp này gồm lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại nhà hoặc lọc bằng máy tự động vào ban đêm. Hiện cả nước mới có khoảng 2.000 bệnh nhân chọn giải pháp này (chiếm 4%). Và phương pháp thứ ba là chạy thận nhân tạo chu kỳ, là phương pháp phổ biến nhất với sự phát triển mạnh mẽ về kỹ thuật. Hạn chế lớn nhất là người bệnh phải đến trung tâm y tế 3 lần/tuần, gây áp lực lớn về thời gian và chi phí đi lại, đặc biệt là bệnh nhân vùng sâu, vùng xa.

Các phương pháp điều trị thay thế thận không loại trừ nhau mà đóng vai trò hỗ trợ, kế thừa lẫn nhau trên từng cá thể. Để tối ưu hóa hiệu quả, TS.BS Nghiêm Trung Dũng khuyến nghị, ngành y tế cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Đẩy mạnh sàng lọc sớm tại tuyến cơ sở; thiết lập chương trình giáo dục tiền lọc máu bài bản khi bệnh nhân bước vào giai đoạn 4; đa dạng hóa, cá thể hóa phương pháp điều trị nhằm đưa kỹ thuật lọc máu về gần dân hơn.

Bài, ảnh: THU SƯƠNG

Top