05/03/2026
x
+
aa
-

Giữ gìn “hồn Việt” nơi đất khách

(ĐCSVN) – Tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ của đại đa số người Việt Nam, là công cụ giao tiếp quan trọng bậc nhất trong một cộng đồng dân cư rộng lớn. Đối với mỗi người con Việt Nam dù ở nơi đâu, tiếng Việt – ngôn ngữ mẹ đẻ luôn được xem là sợi dây kết nối, là chìa khóa gắn kết và gìn giữ mỗi tâm hồn Việt với quê hương.

 

Ngôn ngữ chính là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo tồn, phát triển di sản vật thể và phi vật thể của chúng ta. Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bởi nó bảo đảm sự đa dạng về văn hóa và giúp các nền văn hóa có thể giao thoa, trao đổi với nhau. Là một ngôn ngữ luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội Việt Nam, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ qua các tiến trình phát triển của nước ta, tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Cho tới thời điểm hiện tại, cộng đồng quốc tế nói chung và người dân Việt Nam nói riêng đều không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tiếng Việt cũng như sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ mẹ đẻ.

Khơi dậy lòng tự hào dân tộc, gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam trong các thế hệ trẻ kiều bào (Ảnh: Khánh Linh)


Tiếng Việt là cội rễ dân tộc

Theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao), cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) hiện có khoảng 4,5 triệu người đang sinh sống và làm việc, học tập ở 109 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, tăng 40% so với cách đây 10 năm. Cộng đồng NVNONN gồm nhiều thế hệ, đa dạng về thành phần xã hội, địa vị pháp lý, tôn giáo, dân tộc, nghề nghiệp,… Đa số người Việt Nam sống ở nước ngoài có xu hướng định cư lâu dài và hội nhập dần dần vào cộng đồng sở tại.

Thực tế những năm qua cho thấy hầu hết những NVNONN đều mang trong mình tinh thần tự tôn dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, hướng về cội nguồn, gắn bó với gia đình, quê hương. Như lời chị Nguyễn Thị Ngọc Mai, hiện đang sống và làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc), chia sẻ: “Sâu thẳm một điều ở trong mỗi tâm hồn Việt chúng tôi, dù sống ở những đất nước xa xôi, vẫn luôn hướng về cội nguồn, yêu quê hương, yêu Việt Nam, mong muốn trở về Việt Nam với bao niềm xúc cảm. Người Việt Nam luôn mang trong mình một tâm hồn và trái tim văn hóa Việt. (…) Dù đi đâu ở đâu, thì mỗi người Việt Nam đều luôn mang theo mình hành trang văn hóa Việt Nam”. 

Thêm vào đó, những thành tựu của công cuộc đổi mới, tình hình chính trị – an ninh – xã hội ổn định và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế cũng góp phần củng cố lòng tự hào dân tộc và nhu cầu tự nhiên mong muốn tìm về cội nguồn của bà con kiều bào. Trong quá trình tìm về cội nguồn này, văn hóa và ngôn ngữ đóng vai trò là chìa khóa gắn kết chặt chẽ tình cảm của kiều bào đối với quê hương. “Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ và văn hóa là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau. Có biết tiếng Việt thì thế hệ trẻ NVNONN mới hiểu được quá khứ hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, truyền thống và các phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam ta, từ đó trong họ sẽ nảy sinh lòng tự hào dân tộc” – chị Nguyễn Phương Dung, kiều bào tại Belarus, nhấn mạnh.

Xác định nền tảng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia chính là văn hóa, là ngôn ngữ, thời gian qua, công tác giảng dạy tiếng Việt cũng như chiến lược phát triển và củng cố tiếng Việt trong cộng đồng NVNONN đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng. Chúng ta đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ bà con NVNONN trong việc dạy, học, sử dụng và duy trì tiếng Việt. Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã thực hiện nhiều dự án hỗ trợ xây dựng trường, lớp cho cộng đồng NVNONN tại nhiều nước, hỗ trợ gửi sách giáo khoa, giáo trình tiếng Việt, tổ chức hội thảo về việc dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng, trong đó kết hợp bồi dưỡng giáo viên, tổ chức nhiều chương trình học tiếng Việt dành cho thanh niên kiều bào về thăm quê hương kết hợp học tiếng Việt. Thêm vào đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và nhiều cơ quan tổ chức ở Trung ương và địa phương cũng đã có nhiều hoạt động hỗ trợ bà con dạy và học tiếng Việt như: Cử giáo viên, hỗ trợ xây dựng trường lớp, cung cấp trang thiết bị, sách giáo khoa và đồ dùng học tập… Đặc biệt, chúng ta đã cử nhiều chuyên gia sang tập huấn cho các giáo viên dạy tiếng Việt cho cộng đồng, các thanh niên, sinh viên, thế hệ trẻ kiều bào tại các quốc gia gần chúng ta có điều kiện khó khăn như: Lào, Campuchia,… và một số quốc gia châu Âu. Gần đây, chúng ta đã tổ chức thành công các khóa tập huấn nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên NVNONN, nâng cao chất lượng giảng dạy, trình độ chuyên môn, sư phạm trong việc giảng dạy tiếng Việt theo giáo trình dành riêng cho NVNONN.


Bạn Hoàng Việt Hòa (Litva):“Em yêu tiếng Việt cũng như
yêu quê hương mình và em tự hào mình là người Việt Nam!”
(Ảnh: Khánh Linh)

Là một người Việt Nam hiện đang sinh sống ở Belarus, chị Phương Dung bày tỏ đánh giá rất cao chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác đối với NVNONN: “Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị là văn kiện quan trọng, có mục tiêu nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng NVNONN ổn định cuộc sống và phát triển, giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam và hướng về Tổ quốc. Các chính sách hỗ trợ và chủ trương xây dựng đề án nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Việt cho NVNONN của Đảng và Nhà nước ta rất phù hợp với nguyện vọng của đại đa số Việt kiều đang sống xa Tổ quốc muốn hướng con cháu mình về với quê hương, truyền thống dân tộc thông qua tiếng Việt”. Chị Dung khẳng định dù ở xa quê hương song “những người con đất Việt luôn hướng về cội nguồn với nỗi nhớ khôn nguôi và lòng tự hào vô bờ bến”.

Tiếng Việt là cội rễ dân tộc. Gìn giữ tiếng Việt là gìn giữ nét đặc trưng nhất của văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, tạo sự gắn kết giữa các cộng đồng người Việt trên khắp thế giới cũng như giữa cộng đồng NVNONN với quê hương. “Tiếng Việt là cầu nối gắn kết em với quê hương mình. Mặc dù sinh ra và lớn lên tại nước ngoài nhưng em vẫn luôn ý thức mình hoàn toàn là người Việt Nam. Em yêu tiếng Việt cũng như yêu chính quê hương mình và em tự hào mình là người Việt Nam!” – bạn trẻ Hoàng Việt Hòa, 23 tuổi, sinh ra, lớn lên và hiện đang sống tại Litva, bày tỏ.

Khó khăn trong việc giữ gìn tiếng Việt nơi xứ người

Việc dạy và học tiếng Việt từ lâu đã là một nhu cầu thiết yếu của cộng đồng NVNONN cũng như là một việc làm tất yếu mà các thế hệ người Việt xa quê luôn muốn thực hiện để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, thực tế cho thấy ngày càng phổ biến tình trạng thế hệ người Việt trẻ ở nước ngoài hầu như không nói được tiếng Việt. Tại các hoạt động được tổ chức thường niên dành cho cộng đồng NVNONN, đặc biệt là thế hệ trẻ kiều bào, như Xuân Quê hương hay Trại hè Việt Nam, dễ dàng nhận thấy bên cạnh các em thanh thiếu niên có thể giao tiếp lưu loát bằng tiếng Việt thì vẫn còn một số em gặp khó khăn khi biểu đạt bằng tiếng mẹ đẻ. Trong các kỳ trại hè dành cho thanh thiếu niên kiều bào, mặc dù tham gia các hoạt động trải dài trên cả ba miền của chính quê hương Việt Nam, song một số em vẫn giữ thói quen giao tiếp với nhau bằng tiếng Anh hay ngôn ngữ của quốc gia nơi các em hiện đang sinh sống và học tập. Đây là điều băn khoăn, trăn trở của nhiều thế hệ người Việt sinh sống ở nước ngoài với mong muốn duy trì bản sắc văn hóa truyền thống đối với thế hệ tương lai.

Trở về từ Mỹ tham dự Trại hè Việt Nam 2016, bạn Trần Bùi Nguyên Hải, 21 tuổi, bộc bạch: “Trong số những bạn trẻ người Việt Nam nhưng sinh ra và lớn lên tại Mỹ như em, nhiều bạn không nói được tiếng Việt hoặc rất khó khăn khi sử dụng tiếng Việt, hoặc chỉ nói được rất ít mà không viết được tiếng Việt”. Theo Nguyên Hải, “điều này rất đáng lo ngại vì mình là người Việt Nam thì mình phải có bản sắc riêng khi ra tiếp xúc với môi trường quốc tế”.

Xung quanh vấn đề “Thực trạng dạy – học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài và đề xuất giải pháp” (Tiêu đề của buổi tọa đàm do Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 8/2016 tại Hà Nội), ông Nguyễn Hồng Sơn, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), đã nêu ra thực tế là cộng đồng NVNONN sinh sống phân tán, sinh hoạt cộng đồng khó khăn nên việc duy trì tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống đang là thách thức lớn đối với các thế hệ tương lai của cộng đồng. Ngoài ra, bác Trần Văn Lực, giáo viên dạy tiếng Việt cho kiều bào tại Thái Lan, chia sẻ: Kiều bào tại Thái Lan hội nhập tốt vào xã hội sở tại nhưng thế hệ thứ 3, thứ 4 hầu như không nói được tiếng Việt. Hiện nay, ở Thái Lan chưa có trường lớp chính quy, việc dạy và học tiếng Việt diễn ra theo hình thức tự phát, nhỏ lẻ. Các lớp học được tổ chức trên tinh thần tự nguyện, miễn phí. Hội người Việt tự tổ chức các lớp học cho nhiều lứa tuổi và sử dụng giáo trình tự biên soạn trên cơ sở bộ sách “Tiếng Việt vui” và “Quê Việt”.


Chị Nguyễn Phương Dung (Belarus):“Việc duy trì tiếng Việt
và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống đang là
thách thức lớn đối với các thế hệ tương lai của
cộng đồng NVNONN”. (Ảnh: Khánh Linh)

Lưu ý việc duy trì tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống đang là “thách thức lớn” đối với các thế hệ tương lai của cộng đồng NVNONN, chị Nguyễn Phương Dung, đang tham gia giảng dạy tiếng Việt cho kiều bào tại Belarus, nêu rõ: “Hiện nay, chúng ta thấy rất phổ biến tình trạng thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài không sử dụng tiếng Việt, họ dùng tiếng nước sở tại là chủ yếu, do đó kiến thức về lịch sử và văn hóa Việt Nam của họ gần như không có hoặc rất hạn chế, phong tục tập quán ở quê hương đối với họ hoàn toàn xa lạ và khó hiểu. Hiện tượng này chúng ta thường gọi là “mất gốc””.

Theo chị Dung, không thể phủ nhận là do sức ép của hội nhập văn hóa, từ những khó khăn của cuộc sống hàng ngày, nhiều gia đình người Việt không còn thời gian quan tâm đến việc giữ gìn văn hóa truyền thống hay duy trì tiếng Việt cho các thế hệ tiếp theo. Điều này gây khó khăn cho quá trình giảng dạy tiếng Việt đối với thanh thiếu niên Việt kiều thế hệ thứ 3, thứ 4 sinh ra và lớn lên ở nước sở tại. Ngoài xã hội, các em hoàn toàn nói tiếng nước sở tại, về nhà thì mỗi gia đình vì những nguyên nhân khác nhau nên chưa quan tâm đúng mực đến việc duy trì tiếng Việt. Như vậy, các em thực hành giao tiếp bằng tiếng Việt rất hạn chế, việc học tiếng Việt sẽ khó khăn hơn.

Trong quá trình dạy tiếng Việt cho con em kiều bào ở Belarus, chị Nguyễn Phương Dung chia sẻ một số khó khăn, vướng mắc cụ thể như: Độ tuổi học không đồng đều (các em 7 – 8 tuổi học chung với các anh chị lớn tuổi hơn nhiều); thành phần đa dạng (trong lớp có cả học sinh người Việt Nam, cả học sinh có bố hay mẹ là người Việt Nam kết hôn với người Belarus, có cả học sinh hoàn toàn là người Belarus); môi trường dạy và học tiếng Việt chưa thuận lợi do trong gia đình, bố mẹ bận công việc nên ít có thời gian duy trì môi trường thực hành tiếng Việt cho con, ngoài xã hội, tiếng Việt chưa được xem là ngôn ngữ thứ hai mà học sinh có quyền lựa chọn. Ngoài ra, một khó khăn đáng kể đó là cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu, sách giáo khoa còn thiếu…

Không ai có thể phủ nhận rằng tiếng Việt chính là cầu nối quan trọng gắn kết các thế hệ NVNONN với quê hương, đất nước. Mặc dù còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức song việc dạy và học tiếng Việt cũng như bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ cho các thế hệ NVNONN không chỉ góp phần cho các thế hệ trẻ hiểu để bảo tồn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc mà còn giúp các em tự hào về nguồn cội của mình ở nước sở tại. Qua tiếng Việt, văn hoá và bản sắc dân tộc sẽ được giữ gìn và phát huy tại các cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới./.
(Còn nữa)
Khánh Linh
Top