Khơi dậy niềm tự hào dân tộc của những người Việt xa quê
Phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cuộc trao đổi với đồng chí Vũ Hồng Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài xung quanh nội dung này.

Đồng chí Vũ Hồng Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.
(Ảnh: Khánh Linh).
Phóng viên: Việc phát triển ngôn ngữ mẹ đẻ được xem là cách thức giúp khơi dậy niềm tự hào về cội nguồn dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN), đặc biệt là thế hệ trẻ, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Vũ Hồng Nam: Tiếng Việt còn thì người Việt còn. Nền tảng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia chính là văn hóa và ngôn ngữ. Chính văn hóa, ngôn ngữ làm cho quốc gia này có sự khác biệt với quốc gia khác. Trên tinh thần đó, tiếng Việt luôn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp trong cộng đồng, mà còn thể hiện văn hóa, tinh hoa của Việt Nam qua các thời kỳ. Hiểu biết và giao tiếp bằng tiếng Việt nghĩa là chúng ta sẽ hiểu biết về văn hóa, con người Việt, lịch sử và truyền thống hào hùng 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Chính vì vậy, việc bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ cho các thế hệ NVNONN không chỉ góp phần cho các thế hệ trẻ hiểu để bảo tồn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc mà còn giúp các em tự hào về nguồn cội của mình ở nước sở tại.
Để tiếng Việt thực sự là ngôn ngữ mẹ đẻ của tất cả thanh thiếu niên kiều bào, để các em luôn có ý thức gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc dân tộc, những năm gần đây, Việt Nam rất quan tâm và đặc biệt có nhiều chính sách hỗ trợ cho việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt trong cộng đồng NVNONN.
Phóng viên: Xin Thứ trưởng cho biết trong những năm vừa qua, việc thực hiện "công tác tiếng Việt" đối với NVNONN đã thu được những kết quả cụ thể gì?
Thứ trưởng Vũ Hồng Nam: Công tác giảng dạy tiếng Việt, duy trì tiếng Việt cho cộng đồng NVNONN được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta: Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài xác định rõ việc duy trì và phổ biến tiếng Việt là một nhiệm vụ chủ yếu của công tác cộng đồng. Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (Ủy ban) xác định hỗ trợ kiều bào giữ gìn tiếng Việt là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác cộng đồng. Đồng thời, việc hỗ trợ duy trì tiếng Việt là một nhiệm vụ trong tổng thể chính sách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, truyền bá văn hóa Việt trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Công tác này cũng thu hút sự vào cuộc của các bộ ban, ngành, cơ quan đại diện Việt Nam ở các nước, đặc biệt là sự hưởng ứng và tham gia tích cực của các tỉnh, thành, địa phương, các đoàn thể, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, Ủy ban đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện nhiều dự án hỗ trợ cho cộng đồng NVNONN trong công tác bảo tồn tiếng Việt như: Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp, cung cấp trang thiết bị, sách giáo khoa, đồ dùng học tập; cử, bồi dưỡng, tập huấn giáo viên, hỗ trợ lương giáo viên cho một số địa bàn khó khăn; tổ chức các lớp học tiếng Việt cho thanh niên, sinh viên kiều bào, chương trình "Trại hè Việt Nam" cho thanh thiếu niên kiều bào về thăm quê hương đất nước kết hợp học và giao lưu tiếng Việt; hỗ trợ thế hệ trẻ tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa như: Festival thanh niên, thi tiếng hát Sao Mai… Gần đây, chúng ta đang xây dựng và triển khai một loạt đề án hỗ trợ giáo dục dành cho NVNONN, đặc biệt ưu tiên các cộng đồng khó khăn như: Lào, Campuchia. Những hoạt động này tuy chưa thật rộng khắp do điều kiện kinh tế trong nước còn khó khăn, nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu dạy và học tiếng Việt của cộng đồng NVNONN, được bà con kiều bào hưởng ứng và tích cực tham gia.
Phóng viên: Tuy nhiên, không thể phủ nhận thực tế là do sức ép của hội nhập văn hóa, từ những khó khăn của cuộc sống hàng ngày, nhiều gia đình người Việt không còn thời gian quan tâm đến việc giữ gìn văn hóa truyền thống hay duy trì tiếng Việt cho các thế hệ tiếp theo. Thứ trưởng có thể chia sẻ thêm về những vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình dạy tiếng Việt cho bà con kiều bào?
Thứ trưởng Vũ Hồng Nam: Quá trình hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng NVNONN từ trước đến nay còn gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ nhất, vai trò của gia đình có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn tiếng Việt. Sự quan tâm và nỗ lực của cha mẹ trong việc động viên, hướng dẫn con cái duy trì tiếng Việt cùng với sự giúp đỡ, tạo điều kiện của chính phủ, nhà nước, các tổ chức, hội đoàn có tác dụng rất lớn. Sự thiếu quan tâm của bố mẹ đối với việc duy trì sử dụng tiếng Việt do bận mưu sinh, do sức ép của hội nhập văn hóa là một trong những khó khăn tạo nên môi trường dạy và học tiếng Việt không thuận lợi. Thêm vào đó, ngoài xã hội, tiếng Việt không phải là một ngoại ngữ phổ biến. Do đó, học sinh không có động lực học và không có điều kiện phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng Việt. Cộng đồng sống rải rác ở các địa phương khác nhau, độ tuổi học không đồng đều. Hơn nữa, các cháu quá tải trong học tập chính khóa do nhu cầu học tiếng sở tại để hòa nhập và phục vụ công việc.
Thứ hai, cơ sở vật chất như: Trường lớp, phương tiện, kinh phí hạn chế, nhất là tại các địa bàn khó khăn, cơ sở trường lớp còn không có, thiếu hoặc trong tình trạng sơ sài (các tỉnh ở Lào, Campuchia).
Thứ ba, đa số địa bàn đều trong tình trạng thiếu giáo viên. Một số địa bàn có giáo viên do Bộ Giáo dục và đào tạo cử sang hoặc do liên kết với các tỉnh trong nước, tuy nhiên số lượng còn ít, chưa có hình thức khen thưởng động viên thích hợp đối với giáo viên tự nguyện. Chế độ chính sách đãi ngộ chưa thống nhất cho các giáo viên được cử sang từ Việt Nam. Lực lượng giáo viên tại chỗ không đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng. Khả năng sư phạm không đồng đều, thiếu đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, chủ yếu việc giảng dạy là làm thêm nên thời gian dành cho nghiên cứu chuyên môn hạn chế.
Thứ tư, mặc dù đã có một số đề án hỗ trợ cho công tác dạy và học tiếng Việt nhưng cho đến nay vẫn chưa có bộ sách giáo khoa dạy tiếng Việt thích hợp dành cho từng cộng đồng. Giáo trình mà các địa bàn đang sử dụng phổ biến nhất vẫn là sách dạy tiếng Việt theo chương trình trong nước, nhưng do điều kiện khách quan vẫn chưa đáp ứng đủ so với nhu cầu.
Cuối cùng, tại một số nước, việc cập nhật tiếng Việt hiện đại vào chương trình học còn vấp phải sự cản trở từ các tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt và chưa có tổ chức người Việt tiến bộ nào đủ sức đứng ra tổ chức, góp phần hoặc gây ảnh hưởng đến phong trào tiếng Việt.

Thứ trưởng Vũ Hồng Nam với các giáo viên về tham dự Khóa tập huấn giảng dạy tiếng Việt
cho giáo viên người Việt Nam ở nước ngoài năm 2016 (Ảnh: Khánh Linh)
Phóng viên: Hiện nay, phong trào dạy và học tiếng Việt ở quốc gia nào phát triển mạnh nhất? Mô hình dạy và học tiếng Việt ở quốc gia đó có những ưu việt gì và liệu chúng ta có nên nhân rộng mô hình đó hay không? Theo Thứ trưởng, trong bối cảnh hiện nay, để nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng NVNONN, chúng ta cần biện pháp cụ thể gì?
Thứ trưởng Vũ Hồng Nam: Thời gian qua, với nhiều cố gắng và nỗ lực, phong trào dạy và học tiếng Việt đã phát triển mạnh ở nhiều nơi trên thế giới và đã có những kết quả rất đáng ghi nhận. Như tại Lào, hiện có 12 trường và 1 trung tâm dạy tiếng Việt do Hội Việt kiều quản lý, trong đó những trường có quy mô lớn như trường Nguyễn Du tại thủ đô Viêng-chăn và trường tiểu học Hữu nghị tỉnh Chăm-pa-sắc, mỗi trường có hàng nghìn học sinh theo học. Được chính phủ Lào tạo điều kiện, tiếng Việt được dạy như một ngoại ngữ trong một số trường cấp II, III và các trường dân tộc nội trú. Tại Campuchia cũng có trên 30 điểm trường, lớp học cho con em kiều bào do Hội Việt kiều quản lý. Ở Đông Âu, ngoài các trường do Hội Việt kiều quản lý, còn có các trường do các doanh nghiệp bảo trợ như tại Ucraina có trường của Vingroup tài trợ, tại Séc có Trung tâm tiếng Việt tại Trung tâm thương mại Sapa, Praha, tại Ba Lan có Trường tiếng Việt Lạc Long Quân, thuộc Trung tâm văn hóa Văn Lang tại Ba Lan… Tại Hàn Quốc, có nhiều trung tâm dạy tiếng Việt kết hợp với văn hóa cho con cái các gia đình đa văn hóa (cô dâu Việt lấy chồng người sở tại). Các trung tâm này được hỗ trợ từ các Hội Việt kiều, chính quyền cũng như các tổ chức văn hóa xã hội của sở tại.
Khó có thể nói ở đâu có phong trào dạy và học tiếng Việt mạnh nhất và đâu là mô hình ưu việt nhất. Mỗi khu vực, địa bàn có những đặc thù riêng, có tác động cả thuận và không thuận đến phong trào và hiệu quả của dạy và học tiếng Việt. Một mô hình dạy và học tiếng Việt tốt ở địa bàn này nhưng chưa chắc đã có hiệu quả cao ở địa bàn khác. Do vậy, không thể áp dụng máy móc hoàn toàn một mô hình chung cho tất cả các địa bàn. Tuy vậy, giữa các địa bàn có thể trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau để lựa chọn, áp dụng những cách làm, hình thức phù hợp.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học tiếng Việt, thời gian tới, Ủy ban sẽ tiếp tục quan tâm, triển khai đồng bộ nhiều biện pháp như: Chỉ đạo các cơ quan đại diện phối hợp với các hội Việt kiều đẩy mạnh phong trào dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng, đặc biệt phát động phong trào sử dụng tiếng Việt trong sinh hoạt của gia đình kiều bào; Quan tâm hỗ trợ hội Việt kiều duy trì, đẩy mạnh hoạt động của các lớp đã có, mở các lớp học mới; vận động chính quyền sở tại ủng hộ, tạo điều kiện cho các lớp học hoạt động; vận động các doanh nghiệp kiều bào bảo trợ, hỗ trợ kinh phí cho trường, lớp.
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy tiếng Việt, hàng năm, Ủy ban sẽ tiếp tục mở các lớp tập huấn nghiệp vụ cho giáo viên kiều bào; tổ chức Trại hè thanh niên, sinh viên kiều bào để cho các cháu vừa có cơ hội giao lưu, thực hành tiếng Việt, vừa có điều kiện tìm hiểu văn hoá, lịch sử hào hùng của đất nước ta. Với những địa bàn thực sự khó khăn, chúng ta sẽ có những hỗ trợ cụ thể như: kinh phí mở trường lớp, lương giáo viên, sách giáo khoa, tài liệu học tập… Bên cạnh đó, các bộ, ngành, địa phương cũng sẽ chung tay.
Phóng viên: Thứ trưởng đánh giá thế nào về vai trò và hiệu quả của truyền thông trong và ngoài nước đối với cộng đồng NVNONN nói chung và với việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt ở nước ngoài nói riêng?
Thứ trưởng Vũ Hồng Nam: Xa quê hương, cộng đồng NVNONN có nhu cầu rất lớn đối với thông tin về tình hình đất nước, về các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhất là liên quan đến kiều bào cũng như về các vấn đề nóng, thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận của xã hội trong và ngoài nước.
Thời gian qua, các cơ quan truyền thông đã có nhiều đổi mới, đóng góp tích cực trong công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại. Nội dung thông tin đa dạng phong phú hơn, bám sát những vấn đề mà dư luận kiều bào quan tâm. Tính thời sự, kịp thời của thông tin được đề cao. Hình thức thông tin ngày càng phong phú. Bên cạnh báo chí truyền thống, báo chí điện tử ngày càng phát triển và trở thành một kênh quan trọng trong công tác thông tin đối ngoại. Qua đó, giúp kiều bào ta ở ngoài nước ngày càng hiểu rõ hơn, đúng hơn về Việt Nam, thu hút sự quan tâm và gây ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế về Việt Nam. Hình ảnh đất nước Việt Nam hoà bình, ổn định, đổi mới, đang phát triển năng động, là điểm đến an toàn và tin cậy của đầu tư, du lịch, con người, lịch sử và nền văn hoá lâu đời hết sức phong phú và giàu bản sắc dân tộc của Việt Nam. Có thể nói, thông tin truyền thông đã góp phần thu hẹp khoảng cách giữa kiều bào với quê hương đất nước về mặt địa lý, đưa kiều bào cùng song hành với nhân dân trong nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho kiều bào ta ở nước ngoài, báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng. Báo chí góp phần nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của tiếng Việt đối với cộng đồng NVNONN, nhất là trong gắn kết cộng đồng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và hướng về quê hương đất nước. Internet, các trang báo chí điện tử còn là một kênh quan trọng trong triển khai dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng qua mạng trực tuyến, giúp người học có thêm một lựa chọn trong học tập hơn ngoài việc tham gia các lớp học, khoá học tập trung như truyền thống.
Ngày nay NVNONN có thể học online, luyện các kỹ năng nghe nói mà không cần phải phụ thuộc vào thời gian và không gian. Ngày 12/7/2016 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1382/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tăng cường dạy tiếng Việt trên mạng trực tuyến cho người Việt Nam ở nước ngoài”.
Bên cạnh chức năng thông tin, báo chí còn cung cấp cơ hội cho học viên cơ hội thực hành, rèn luyện, củng cố nâng cao tiếng Việt ngoài giờ học trên lớp. Vì vậy, phát huy vai trò của thông tin truyền thông là một giải pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Việt cho cộng đồng NVNONN trong thời gian tới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

