20/07/2026
x
+
aa
-

Khơi thông nguồn lực từ thị trường carbon 

Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng trong phát triển thị trường carbon, khi hàng hóa là hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon được đưa lên sàn giao dịch trong nước. Đây không chỉ là bước đi kỹ thuật trong quản lý phát thải, mà còn mở ra cách tiếp cận mới: Sử dụng công cụ thị trường để thúc đẩy doanh nghiệp giảm phát thải, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế xanh trở thành yêu cầu tất yếu.

Phát triển rừng tại xã Phan Sơn, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: THANH HẢI)

Bước đầu hoàn thiện nền tảng vận hành

Bộ Tài chính phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa tổ chức khai trương Sàn giao dịch carbon trong nước, đánh dấu bước đi quan trọng trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam. Việc đưa sàn giao dịch vào vận hành không chỉ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, mà còn mở ra một cơ chế kinh tế mới, giúp các cơ sở phát thải chủ động tính toán, lựa chọn phương án giảm phát thải phù hợp thông qua giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hạ tầng kỹ thuật phục vụ vận hành Sàn giao dịch carbon trong nước gồm 3 cấu phần. Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon do Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, vận hành; hệ thống giao dịch carbon do Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội tổ chức, vận hành và hệ thống lưu ký và thanh toán giao dịch carbon do Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam tổ chức, vận hành.

Cùng với việc hoàn thiện thể chế, kỹ thuật, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho giai đoạn năm 2025-2026. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã ban hành quyết định việc phân bổ thí điểm hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho 110 cơ sở. Với hơn 511 triệu tấn CO2tđ, Việt Nam đã có ngay một “nguồn hàng” quy mô lớn để đưa lên sàn giao dịch. Tuy vậy, việc khai trương sàn giao dịch mới chỉ là bước khởi đầu. Điều quan trọng hơn là thị trường phải được vận hành minh bạch, có hệ thống đo đạc và thẩm định đáng tin cậy, qua đó tạo động lực để doanh nghiệp giảm phát thải thực chất thay vì chỉ dừng ở việc mua bán tín chỉ trên danh nghĩa.

Trong hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải, Nhà nước xác định tổng lượng phát thải được phép và phân bổ hạn ngạch cho các cơ sở. Doanh nghiệp phát thải vượt hạn ngạch phải mua thêm; doanh nghiệp giảm phát thải tốt có thể tiết kiệm chi phí hoặc bán phần hạn ngạch dư. Cơ chế này biến phát thải thành một chi phí kinh tế cụ thể, qua đó khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, sử dụng năng lượng hiệu quả hơn và chuyển đổi mô hình sản xuất.

Nói một cách dễ hiểu là thí dụ một nhà máy được phân bổ 150.000 tấn CO2tđ trong một năm, nếu nhờ đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, sử dụng nhiên liệu sạch hơn, doanh nghiệp chỉ phát thải 120.000 tấn, thì 30.000 tấn hạn ngạch còn dư có thể được đưa vào giao dịch như một loại hàng hóa đặc biệt.

Các đại biểu thực hiện nghi thức khai trương Sàn giao dịch carbon trong nước. (Ảnh: Cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Đối với tín chỉ carbon lại được hình thành theo cách khác. Đây là kết quả của các dự án tạo ra lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính tăng thêm so với kịch bản thông thường. Thí dụ, một dự án trồng mới, phục hồi rừng nếu được xác nhận đã hấp thụ thêm 35.000 tấn CO2, sau khi đo đạc, thẩm định và chứng nhận, có thể được phát hành tương ứng 35.000 tín chỉ carbon. Số tín chỉ này sau đó có thể bán cho các doanh nghiệp có nhu cầu bù trừ lượng phát thải của mình. Như vậy nếu doanh nghiệp phát thải vượt hạn ngạch được phân bổ sẽ phải mua thêm hạn ngạch, hoặc sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ theo quy định.

Cần minh bạch dữ liệu, củng cố niềm tin thị trường

Ở giai đoạn đầu, thị trường carbon tập trung vào các lĩnh vực phát thải lớn như nhiệt điện, sắt thép, xi-măng. Hạn ngạch được phân bổ nhằm giúp doanh nghiệp làm quen với cơ chế mới. Tuy nhiên, về lâu dài, nhiều chuyên gia cho rằng cần tính đến lộ trình đấu giá hạn ngạch để phản ánh đầy đủ hơn chi phí carbon, đồng thời tạo nguồn thu tái đầu tư cho chuyển đổi xanh.

Theo ông Trần Đức Phú (Trường đại học Ngoại thương), thị trường carbon tự nguyện tại Việt Nam còn ở giai đoạn đầu nhưng có tiềm năng lớn. Việt Nam hiện có khoảng 116 dự án carbon ở các giai đoạn phát triển khác nhau, trong đó 40 dự án đã được chứng nhận; tổng lượng tín chỉ phát hành hằng năm ước khoảng 10,7 triệu tín chỉ.

Các dự án lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, bên cạnh điện gió, biogas, xử lý chất thải và giao thông điện hóa. Phần lớn tín chỉ hiện được bán cho người mua quốc tế thông qua các thỏa thuận song phương. Hệ thống kỹ thuật đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) còn phụ thuộc nhiều vào dữ liệu và hướng dẫn của cơ quan trung ương. Năng lực kỹ thuật tại địa phương cần tiếp tục được đào tạo, bổ sung. Cơ chế chia sẻ lợi ích cụ thể giữa Nhà nước, chủ rừng, cộng đồng và các bên liên quan vẫn cần được hoàn thiện. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhà đầu tư.

Ở góc độ tiếp cận thị trường của khu vực tư nhân, bà Đoàn Hồng Nhung (Trường đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, yêu cầu MRV phức tạp, hạ tầng số và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý tín chỉ chưa hoàn thiện đang làm tăng chi phí tuân thủ, nhất là với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, cần chuẩn hóa hệ thống MRV, phát triển hệ thống đăng ký tập trung, hạn chế tính trùng tín chỉ và áp dụng cơ chế khuyến khích như tín dụng xanh, ưu đãi thuế để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các dự án giảm phát thải.

Một vấn đề quan trọng khác là địa vị pháp lý của tín chỉ carbon. Ông Phan Duy Hòa (Trường đại học Ngoại thương) cho rằng, tín chỉ carbon tại Việt Nam chưa được xác định là giấy phép hành chính hay quyền tài sản. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi xác lập quyền sở hữu, chuyển nhượng, ghi nhận tài sản hoặc sử dụng tín chỉ làm tài sản bảo đảm để tiếp cận tín dụng xanh. Vì vậy, cần xác lập tín chỉ carbon là quyền tài sản vô hình, qua đó tạo cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp sử dụng tín chỉ trong các giao dịch tài chính.

Trong bối cảnh các cơ chế thương mại khí hậu như Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu ngày càng tác động mạnh đến xuất khẩu, thị trường carbon trong nước còn là công cụ giúp doanh nghiệp chủ động thích ứng. Các chuyên gia cho rằng, tác động của CBAM phụ thuộc vào công nghệ sản xuất, cơ cấu năng lượng và khả năng đo lường, xác minh dữ liệu phát thải. Những doanh nghiệp có cường độ carbon cao hoặc thiếu dữ liệu đáng tin cậy sẽ đối mặt với chi phí tuân thủ lớn hơn.

Vì vậy, phát triển thị trường carbon không chỉ nhằm thực hiện cam kết khí hậu, mà còn là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh. Một thị trường minh bạch, có hệ thống đăng ký đáng tin cậy và dữ liệu phát thải được kiểm chứng sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro khi tham gia các chuỗi cung ứng xanh. Ngược lại, nếu thiếu dữ liệu, thiếu giám sát và thiếu niềm tin, thị trường có thể chỉ tạo thêm giao dịch mà không tạo thêm kết quả giảm phát thải thực chất.

Theo Báo Nhân dân

Other news

Ngành Công Thương tăng tốc cho tăng trưởng hai con số 
Trong mục tiêu tăng trưởng GRDP hai con số của TP Cần Thơ năm 2026, ngành Công Thương được kỳ vọng giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng. Khu vực công nghiệp và thương mại chiếm gần 75% quy mô nền kinh tế thành phố.
Rà soát, cập nhật kịch bản, phấn đấu tăng trưởng GRDP đạt từ 10% trở lên 
(CT) - UBND TP Cần Thơ vừa ban hành Kế hoạch số 329/KH-UBND triển khai nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh 6 tháng cuối năm 2026.
Đa dạng mẫu mã, chú trọng công nghệ 
Đang vào mùa mưa với thời tiết thất thường, nhiều gia đình trang bị các thiết bị gia dụng như máy nước nóng, máy sấy tóc... để bảo vệ sức khỏe
Bộ Khoa học và Công nghệ lưu ý gì về chất lượng xăng E10? 
Chất lượng xăng sinh học E10 đang được quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ chế kiểm tra, giám sát ở tất cả các khâu từ sản xuất, pha chế, nhập khẩu đến lưu thông trên thị trường.
Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 
(CT) - Xác định công tác tuyên truyền và hỗ trợ chính sách là nhiệm vụ trọng tâm, trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Thuế TP Cần Thơ kịp thời phổ biến 66 văn bản quy phạm pháp luật mới đến cán bộ, công chức và người nộp thuế. Thông tin được truyền tải nhanh chóng, trực quan, đa dạng qua website, email, các nền tảng mạng xã hội Facebook, Zalo, TikTok, YouTube.
Top