05/03/2026
x
+
aa
-

Kỷ niệm 70 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến: Bản hùng ca Hà Nội mùa Đông năm 1946

(ĐCSVN) – Với tinh thần chiến đấu quật cường, cùng với sự khôn khéo, quyết tâm giành lại độc lập dân tộc, Thủ đô Hà Nội đã trở thành chiến trường khói lửa, phố phường biến thành chiến lũy và mỗi người dân là một chiến sĩ... Những hình ảnh về Hà Nội anh hùng lại một lần nữa được tái hiện trong tọa đàm “Bản hùng ca Hà Nội mùa Đông năm 1946” diễn ra sáng 16/12.

Một thời tuổi trẻ sục sôi

70 năm đã trôi qua, nhưng trong ký ức của ông Đỗ Văn Đa, pháo thủ Pháo đài Láng vẫn nhớ mãi trận đánh lịch sử ngày 19/12/1946. “Chúng tôi, những trai làng ngoại thành Hà Nội, quen làm ruộng, trồng rau hơn cầm súng, đã vào vị trí nhưng rất hồi hộp, không thể hình dung được chiến sự sẽ ra sao. Đúng 20 giờ 3 phút, cả nội thành tối om – điện tắt, đồng chí Nguyễn Ưng Gia, Trung đội trưởng Pháo đài Láng dõng dạc hô khẩu lệnh: “Bắn”. Lần đầu tiên, tôi được nghe khẩu pháo gầm dữ dội, tai ù đặc nhưng vẫn không rời tay chuyển đạn lên mâm pháo. Ba loạt, 6 viên đạn pháo liên tiếp lao đi. Chúng tôi như trẻ nhỏ, sung sướng vui mừng không kể xiết khi trinh sát báo về pháo bắn vào quân địch trong nội thành đã trúng đích”, ông Đỗ Văn Đa nhớ lại.

Sau trận pháo mở màn, tối ngày 19/12/1946, những người lính pháo binh pháo đài Láng tiếp tục nhiệm vụ canh gác vòng ngoài, trong khi quân dân 5 cửa ô tiến sâu vào trong thành Hà Nội. Ngày 22/12/1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp “Gửi lời khen tinh thần của các chiến sĩ pháo đài”. Tháng 1/1947, đơn vị được lệnh rút khỏi pháo đài, hành quân lên Việt Bắc, hòa mình vào cuộc kháng chiến trường kỳ.

Tọa đàm "Bản hùng ca Hà Nội mùa đông 1946"

Trong 60 ngày đêm khói lửa bảo vệ Thủ đô, Hà Nội đã trở thành chiến trường khói lửa, phố phường biến thành chiến lũy và mỗi người dân biến thành chiến sĩ... Lúc bấy giờ, chợ Đồng Xuân là một trong những trận địa chống Pháp oanh liệt nhất. Ông Vũ Tâm, sinh năm 1927, nguyên Chánh văn phòng Binh đoàn Quân tình nguyện 678 giúp Lào, nguyên Trung đội trưởng Đội tự về Đồng Xuân xúc động nhớ lại: Thực hiện Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, nam nữ thanh niên ngày đó đã hăng hái ra trận. Với khẩu hiệu “Sống chết với Thủ đô”, đồng bào và chiến sĩ Liên khu 1 chấp nhận mọi hiểm nguy, thiếu thốn, sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo và hiệu quả. Tôi nhớ, năm cửa ô không lúc nào im tiếng súng. Mỗi căn nhà là một pháo đài, mỗi góc phố là một chiến lũy.

Trận đánh ngày 14//21947 tại Đồng Xuân được lịch sử Thủ đô ghi lại là trận đánh lớn nhất trong 60 ngày đêm bảo vệ Hà Nội mà tôi được tham gia. Pháp tiến công Tiểu đoàn 101 khu vực chợ Đồng Xuân. Đơn vị tôi đánh giáp lá cà với lính Pháp, dùng lưỡi lê, dao găm, dao thái thịt, báng súng quần với địch và hy sinh đến những người cuối cùng... Đến giờ, tôi vẫn không quên được hiệu lệnh của toàn đơn vị khi đó: “Ăn tại chỗ, ngủ tại chỗ, chiến đấu tại chỗ và chết chôn tại chỗ”. Tôi đã phải chôn đồng đội mình ở chính nơi anh ấy chiến đấu đến hơi thở cuối cùng tại khu chợ Đồng Xuân. Người đó là Đỗ Văn Thìn, đồng đội thân thiết của ông. Ông Vũ Tâm kể lại, đồng chí Thìn phát hiện thấy Tiểu đội phó Nguyễn Thành Trường đang quần nhau với địch ở thế yếu liền rời chỗ ẩn nấp chạy ra hỗ trợ, dùng báng súng đánh vào đầu gối tên địch. Hắn khuỵu xuống, đồng chí Thìn cùng Tiểu đội phó Thành Trường đâm tiếp. Do đồng chí Thìn đứng dậy bị lộ mục tiêu, tên địch phía sau lưng đã bắn một băng tiểu liên, đồng chí Thìn hy sinh... Sau này, chợ Đồng Xuân được xây lại, ông và đồng đội đã tìm thấy hài cốt đồng chí Thìn kèm theo một quả lựu đạn.

Tích cực ủng hộ kháng chiến

Cuối năm 1946, trong những ngày khẩn trương chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến ở và làm việc tại ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương ở làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (cũ), nay là phường Vạn Phúc, quận Hà Đông (Hà Nội) từ ngày 3 - 19/12/1946. Chính tại căn nhà này, ngày 18 - 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước, vạch ra đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến và ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”.

Nhớ về tuổi thơ và ngôi nhà đầy kỉ niệm, nơi Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, bà Nguyễn Thị Hà (con gái ông Nguyễn Văn Dương) xúc động kể lại: Tôi khi đó còn nhỏ, sau này, cha tôi kể lại, đêm ngày 3/12/1946, gia đình có nhận được thông báo là có đoàn cán bộ cao cấp đến ở và làm việc. Chính vì vậy, cha bảo anh em tôi dọn xuống tầng 1 để ở, nhường gác 2 cho các cán bộ cách mạng làm việc, thế là thời gian đó gia đình tôi sinh hoạt ở tầng dưới, vì bảo đảm bí mật nên ít khi lên gác trên. Ngày ấy, không ai biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở trong nhà tôi. Ngay cả cha tôi cũng không biết điều đó.

Tối 19/12, trước khi từ biệt gia đình, Bác đã gặp gỡ cha tôi và ngỏ lời cảm ơn ông cùng gia đình đã giúp đỡ cán bộ của Trung ương. Lần đầu được nhìn thấy Bác, ngồi đối diện với Bác, cha tôi đã mạnh dạn hỏi Bác một câu: “Giặc Pháp mạnh, có máy bay, có đại bác mà ta còn yếu thì đánh thế nào ạ?”. Bác nói: “Nhất định là đánh được, còn nhanh hay chậm là do ta. Nếu nhân dân ta, ai cũng đồng lòng gắng sức thì dù giặc Pháp có mạnh đến mấy, chúng cũng phải thua”. Theo bà Hà, chính sự gần gũi, giản dị và lời động viên của Bác trước khi từ biệt gia đình bà đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của gia đình bà Hà về sau này. Tất cả anh em của bà đều theo cách mạng. Người anh cả ở nhà tham gia ủng hộ kháng chiến, bị giặc Pháp bắt, tù đày. Người anh thứ hai của bà theo cách mạng, lên Việt Bắc hoạt động đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Người anh thứ ba xung phong đi làm dân công, hoạt động ở Thái Nguyên.

Bà Hà cũng cho biết thêm, hiện nay, căn nhà của gia đình bà vẫn được bảo tồn nguyên trạng, những vật dụng Bác dùng năm xưa như chiếc giường, bàn làm việc, bàn tiếp khách, đôi tạ tay... đã trở thành những kỷ vật được lưu giữ cẩn thận. Đặc biệt, mỗi năm ngôi nhà này đón hàng trăm đoàn khách là sinh viên các trường đại học, cựu chiến binh và nhân dân từ khắp nơi trong cả nước đến tham quan, ôn lại những giá trị lịch sử, truyền thống đấu tranh cách mạng của quân dân ta./.

 

Bài và ảnh: V.Hà
Top