Quản lý sức khỏe tổng thể để nâng cao hiệu quả nuôi tôm
Nghề nuôi tôm đang đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu (BĐKH), dịch bệnh, cùng với đòi hỏi ngày càng cao của thị trường về chất lượng, sản phẩm an toàn... Để nuôi tôm đạt hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, người nuôi cần áp dụng các giải pháp quản lý sức khỏe tổng thể, kiểm soát dịch bệnh và chủ động giảm giá thành sản xuất.

Thu hoạch tôm nước lợ tại TP Cần Thơ. Ảnh: KHÁNH TRUNG
Nhiều thách thức
Ngành nuôi tôm Việt Nam những năm qua đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản và sinh kế của hàng triệu người dân. Tuy nhiên, Thạc sĩ Trình Trung Phi, Phó Tổng Giám đốc Kỹ thuật và Tôm thương phẩm Tập đoàn Việt Úc, cho rằng: “Nghề nuôi tôm đang đối mặt với nhiều thách thức do mầm bệnh luôn thường trực và biến đổi phức tạp. Thời tiết diễn biến bất thường, giá tôm sụt giảm mạnh do tác động từ thị trường thế giới”.
Theo GS.TS Vũ Ngọc Út, Hiệu trưởng Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ, nghề nuôi tôm đang đối mặt với sự gia tăng về tần suất và mức độ nghiêm trọng của các bệnh trên tôm nuôi. Các bệnh nguy hiểm như hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng, đặc biệt là bệnh do vi bào tử trùng EHP không chỉ gây thiệt hại lớn về kinh tế mà còn làm suy giảm hiệu quả sản xuất một cách âm thầm nhưng kéo dài. Điều đáng lưu ý là nhiều tác nhân gây bệnh hiện nay không chỉ đơn thuần là mầm bệnh, mà còn liên quan chặt chẽ đến điều kiện môi trường, sức khỏe nền của tôm và phương thức quản lý ao nuôi.
Cùng với đó, biến động môi trường, đặc biệt dưới tác động của BĐKH đã làm thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ mặn, pH và chất lượng nước, tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển, làm suy giảm sức đề kháng tự nhiên của tôm. Ở nhiều khu vực, mô hình nuôi thâm canh với mật độ cao nhưng thiếu kiểm soát tốt về môi trường đã làm gia tăng rủi ro dịch bệnh. Đặc biệt, chất lượng con giống vẫn là một “nút thắt” quan trọng. Dù đã có nhiều tiến bộ trong chọn giống và kiểm soát dịch bệnh, nhưng trên thực tế, sự không đồng đều về chất lượng, nguy cơ mang mầm bệnh tiềm ẩn, và thiếu truy xuất nguồn gốc rõ ràng vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của vụ nuôi. Mặt khác, việc lạm dụng hóa chất và kháng sinh trong một số trường hợp không những không giải quyết triệt để vấn đề mà còn gây ra những hệ lụy lâu dài như kháng thuốc, ô nhiễm môi trường và rào cản thương mại đối với sản phẩm tôm xuất khẩu.

Thu hoạch tôm nước lợ tại TP Cần Thơ.
Cần quản lý sức khỏe tôm
Để nâng cao hiệu quả nuôi tôm và giảm rủi ro do dịch bệnh, GS.TS Vũ Ngọc Út cho rằng: “Cần có sự chuyển đổi từ xử lý bệnh sang quản lý sức khỏe tổng thể, từ phản ứng bị động sang phòng ngừa chủ động và từ tăng trưởng bằng mọi giá sang phát triển bền vững dựa trên cân bằng sinh thái”.
Thạc sĩ Trình Trung Phi nhìn nhận, con giống là nền móng của cả vụ nuôi, quyết định tới 40% tỷ lệ thành công. Đồng thời, cần thả nuôi với mật độ vừa phải để đảm bảo môi trường bền vững, tránh quá tải gây rủi ro dịch bệnh. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ siêu âm điện hóa trong xử lý nước đầu vào được đánh giá là bước đột phá. Qua đó, giúp giảm mạnh chi phí so với các biện pháp xử lý nước truyền thống, giúp loại bỏ tạp chất hữu cơ và kim loại nặng một cách triệt để.
Việc tăng cường ứng dụng vi sinh trong nuôi tôm cũng rất quan trọng nhằm xây dựng hệ sinh thái ao nuôi cân bằng, giảm phụ thuộc vào hóa chất và hướng đến mô hình nuôi an toàn, thân thiện với môi trường. Theo Tiến sĩ Lê Thị Hải Yến, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển (R&D) Vemedim, việc triển khai giải pháp ứng dụng các chế phẩm sinh học, men vi sinh (probiotic) để nuôi tôm không kháng sinh đang trở thành xu hướng tất yếu của ngành nuôi tôm hiện đại. Các chế phẩm probiotic không chỉ giúp cân bằng hệ vi sinh ao nuôi và đường ruột tôm mà còn có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh như Vibrio, phân hủy chất hữu cơ và giảm khí độc NH3, H2S trong ao. Vemedim đã có các sản phẩm như VS PRO, Pond MAX… giúp phân hủy chất hữu cơ và giảm khí độc chỉ sau 12-24 giờ sử dụng. Sản phẩm PRO Garlic kết hợp vi sinh và cao tỏi đen giúp tôm tăng đề kháng, làm ruột to và gan khỏe. Thực nghiệm tại Cà Mau và Bạc Liêu (cũ) cho thấy các giải pháp này giúp tăng tỷ lệ sống thêm 9,9%-13,8%, giảm bệnh phân trắng 55,1% và cải thiện hệ số FCR (hệ số chuyển đổi thức ăn) đáng kể.
Các chuyên gia khuyến cáo người nuôi tôm nên sử dụng chế phẩm vi sinh để ổn định môi trường, tránh lạm dụng hóa chất. Chú ý phát huy vai trò của dinh dưỡng trong tăng cường sức khỏe tôm, giúp nâng cao khả năng miễn dịch và giảm thiểu tác động stress môi trường. Nguồn nước cấp phải đảm bảo số lượng, chất lượng, được lắng lọc và khử trùng nghiêm ngặt. Con giống cần khỏe mạnh và đã qua kiểm định, chế độ dinh dưỡng phải đầy đủ để tăng sức đề kháng. Về xử lý nước thải, nên sử dụng thực vật thủy sinh để hấp thụ chất dư thừa. Việc tận dụng vi khuẩn có lợi đối kháng với mầm bệnh giúp môi trường sạch hơn và có thể tái sử dụng nước.
Bài, ảnh: KHÁNH TRUNG

