14/06/2026
x
+
aa
-

Tri thức về con nước của cư dân ĐBSCL 

Với đặc thù nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về và thủy triều từ biển tác động đến đời sống, cư dân ĐBSCL sớm đúc kết tri thức về con nước. Đó là tổng hợp những kinh nghiệm, hiểu biết của cư dân địa phương được tích lũy qua nhiều thế hệ trong quá trình sinh sống, sản xuất và khai thác nguồn lợi tự nhiên, từ đó ứng xử thích hợp với thời tiết, khí hậu; là kho tàng văn hóa phi vật thể của người dân ĐBSCL.

Những hiểu biết dân gian về quy luật con nước

Từ lâu, người dân ĐBSCL đúc kết quy luật vận động của nước theo chu kỳ mặt trăng; phân biệt rõ các thời điểm nước lớn và nước ròng trong tháng âm lịch. Dựa vào tiến trình vận động lên xuống của các dòng nước (một tiến trình diễn biến có chu kỳ), người ta chia các từ thuộc nhóm này thành 3 nhóm nhỏ: nước chuyển từ mực thấp sang cao: nước lên; nước chuyển từ mực cao xuống thấp: nước xuống; nước không hoặc chưa chuyển trạng thái: nước đứng.

Vỏ lãi là phương tiện đi chợ phổ biến của người dân vùng sông nước. Ảnh: DUY KHÔI

Để chỉ nước lên mỗi ngày, người dân địa phương nói là nước lớn. Nhưng một từ đặc biệt hơn là rong (hay rông) chỉ con nước lên cao vượt mực thường. Mỗi tháng 2 lần (nhất là tháng 9 và tháng 10 âm lịch), trước sau ngày rằm và ngày sóc (13, 14, 15, và 30, 1, 2 âm lịch) nước lớn tối đa như vậy. Ngược lại để chỉ nước xuống mỗi ngày, người dân địa phương nói là nước ròng. Lúc nước bắt đầu rút xuống thì gọi là nước giựt. Nếu nước thật ròng thì gọi là ròng sát, ròng cạn, ròng rặc, hay ròng kiệt. Trong 1 tháng có mấy hôm nước ròng, xuống thấp quá mực thường gọi là nước kém. Con nước kém thường xảy ra vào những ngày 9-10 hoặc 24-25 âm lịch hằng tháng. Như thế, kém là từ trái nghĩa với rông ở nhóm trên(1).

Con nước trong lao động sản xuất

Tri thức về con nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất của cư dân ĐBSCL. Người dân căn cứ vào chu kỳ nước để gieo sạ, làm đất, đắp bờ, tháo nước hoặc lấy nước vào ruộng. Trước đây, khi hệ thống thủy lợi chưa phát triển, việc canh tác phụ thuộc rất lớn vào kinh nghiệm dự đoán con nước để hạn chế thiệt hại do ngập úng hoặc thiếu nước.

Đối với đánh bắt thủy sản, con nước là yếu tố quyết định hiệu quả khai thác. Ngư dân hiểu rõ thời điểm cá tôm xuất hiện theo dòng nước để lựa chọn phương thức đánh bắt phù hợp. Nhiều nghề truyền thống như đặt lờ, giăng lưới, đóng đáy, câu cá đều dựa vào quy luật thủy triều. Có thể nói, nếu không nắm được quy luật con nước thì không thể sinh kế ở vùng đất này. Chẳng hạn, từ ngày 13 đến 20 âm lịch và từ ngày 27 đến mùng 5 âm lịch hằng tháng là ngày nước lớn. Những ngày này, đi lại sẽ thuận lợi nhất, tàu lớn vào sâu trong sông mà không sợ mắc cạn. Những ngày còn lại trong tháng là con nước ươn. Nước vừa lên đi câu là tốt nhất, lúc đó cá nhiều, cá lớn. Bên cạnh đó, phải lựa chọn chỗ câu thích hợp, câu sông thì ở những chỗ có bờ kè, bờ đá, cây cọc, ở những chỗ có vật cản thì cá tập trung nhiều. Đi câu biển thì đi vào ban đêm, buông cần ở những nơi có cọc đóng đáy, có rạn đá. Đi câu ven bờ biển phải biết quan sát sóng biển: những khu vực có sóng biển cuộn lên tức nước nông, những khu vực không có sóng cuộn lên là điểm nước sâu hơn(2).

Ở vùng đất này, thiên nhiên ưu đãi có ít nhất 4 con nước một ngày, ngư dân có nhiều thời điểm để đánh bắt, chài lưới. Cách tính nước để đánh bắt ở vùng cửa sông, ven biển Tây Nam Bộ cũng cơ bản theo nguyên tắc đầu con, cuối kiệt, ngư dân khi mưu sinh vùng này phải biết chính xác về thời điểm di chuyển nước lên - xuống ở từng giờ trong một ngày. Chẳng hạn, vào những ngày nước lớn (rong), thời điểm 1 giờ trước đầu con nước và 1 giờ cuối con nước, cá ở cửa sông thường đi ăn mồi. Đối với những ngày nước nhỏ thì cá ăn lai rai cả ngày. Vùng cửa sông, cá thường tập trung ăn mồi nhiều khi con nước kém, nước ngầm và nước dậy, tới con nước rong thì thưa hẳn. Loài cá chẽm thường ăn mạnh ở những ngày nước rong và thường là trong những thời điểm đầu con nước, lúc nước xuống hết cỡ và đang chuẩn bị ngoi lên lại thì cá chẽm đi tìm mồi. Những luồng gió theo từng con nước cũng quan trọng, cá tráp đen cắn câu khi gió Đông thì cá ăn rộ, gió Tây cá chỉ ăn mỗi khi gió thổi liên tục. Điển hình là có 2 mùa câu cá bông lau rõ rệt, gồm mùa câu đón và mùa câu xổ. Câu cá chẽm khoảng tháng 5 đến tháng 8. Câu cá ngát, tôm càng vào thời điểm nước tháng Chạp cạn lại khi sắp hết mùa mưa(3).

Kho tàng văn hóa

Nhiều câu tục ngữ liên quan đến tri thức về con nước vùng cửa sông ven biển và nghề đánh bắt như: "Ba mươi nước kém, mùng mười nước rong", "Nước kém cạn sông, nước rong cạn vũng"... là những kinh nghiệm về quy luật lên, xuống của nhịp triều, rất cần thiết cho tàu thuyền ra vào cửa sông, neo đậu hay tiến hành đánh bắt, chài lưới, đóng đáy ngoài khơi. Hay kinh nghiệm về bão: "Động nước trước động trời", "Chớp Bắc thổi nồm, chớp Nam thổi chướng"... Ngư dân có kinh nghiệm cụ thể về con nước, các mùa gió, hướng gió, luồng cá, loại cá trong từng tháng để dự liệu mùa vụ và chuẩn bị cho việc đánh bắt hiệu quả. Chẳng hạn từ tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch có gió nồm ở hướng Đông Nam, từ tháng Tư đến tháng Bảy âm lịch có gió Nam và Tây Nam, còn tháng Tám đến tháng Mười âm lịch là mùa gió chướng. Mùa gió chướng là mùa ít tôm cá nhất vì trời lạnh. Tháng Ba và tháng Tư âm lịch, tức thời điểm giao mùa gió nồm và gió nam, trời yên biển lặng, là mùa ngư dân Tây Nam Bộ khai thác được rất nhiều tôm cá, nên còn được gọi là mùa đồng chung. Có lẽ vì vậy nên có câu: Tháng Ba bà già đi biển(4).

Không chỉ phục vụ sản xuất, tri thức về con nước còn thấm sâu vào đời sống văn hóa của cư dân ĐBSCL. Trong ngôn ngữ dân gian, hình ảnh con nước xuất hiện rất nhiều qua ca dao, tục ngữ và dân ca, như câu ca dao: "Nước rằm chảy thấu Nam Vang / Mù u chín rụng sao chàng biệt ly".

Những hiểu biết về quy luật thủy triều, mùa lũ và dòng chảy đã góp phần định hình phương thức sản xuất, đời sống sinh hoạt và bản sắc văn hóa của cư dân ĐBSCL. Đến nay, tri thức con nước vẫn là nguồn tài sản văn hóa quý giá phục vụ phát triển bền vững vùng đất này.

Huỳnh Hà

(1) Trần Thị Ngọc Lang (1995), “Phương Ngữ Nam Bộ”, NXB KHXH, Hà Nội, tr.94.

(2) Phạm Lan Oanh (Chủ biên) (2019), “Văn hóa biển đảo Việt Nam: Văn hóa biển đảo vùng Tây Nam Bộ”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.173-174.

(3) Phạm Lan Oanh, Sđd, tr.176-177.

(4) Phạm Lan Oanh, Sđd, tr.158-160.

Other news

Địa danh Cồn Khương 
Cồn Khương là cồn nổi giữa sông Hậu, phần lớn thuộc địa phận phường Cái Khế ngày nay. Theo các vị cao niên, cồn nổi lên khoảng thế kỷ XIX, ban đầu lưa thưa người sống, chủ yếu làm nghề chài lưới, trồng rẫy.
Tri thức về con nước của cư dân ĐBSCL 
Với đặc thù nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về và thủy triều từ biển tác động đến đời sống, cư dân ĐBSCL sớm đúc kết tri thức về con nước.
Mùa hoa bằng lăng nở 
Cứ mỗi mùa hè, cây bằng lăng ở góc sân nhà ông Tranh lại trổ đầy những chùm hoa màu tím. Sắc tím của hoa bằng lăng tạo cảm giác êm ả. Màu hoa đượm buồn khiến lòng người dịu lại.
Chiều buông sông vắng 
Tôi nói với má, ước gì bây giờ con còn nhỏ xíu, ngồi trên xuồng để má chèo đi trên sông Cái mỗi độ hoàng hôn buông đỏ rực, hệt như hồi xưa. Má cười sau một tràng ho thắt cả ruột gan, rồi với tay tấp thêm bông bồn khô lên bếp lò đang ụn khói un muỗi.
Tiếng hót của con chim xanh 
Cuối cùng thì già Thêm cũng phải bán mảnh vườn cha ông để lại, mảnh vườn đã tồn tại qua ba đời, chứng kiến bao thăng trầm của giòng họ Giang, một dòng họ khởi thủy từ dòng sông xanh thẳm vắt qua làng như một dải lụa, đặc ân ông trời đã ban cho làng mạc bao đời trù phú.
Top