Ưu tiên nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng ven biển
Sáng 10/3, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp cùng Đại sứ quán Anh tại Hà Nội tổ chức Hội thảo trực tuyến “Bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển - Giải pháp giảm phát thải và phát triển kinh tế”.
![]() |
| Hình ảnh Hội thảo trực tuyến. (Ảnh: B.T) |
Tại Hội thảo, ông Nguyễn Nam Sơn – Vụ Phát triển rừng, Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, thực hiện Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2020, cả nước đã thực hiện 140 dự án bảo vệ và phát triển rừng ven biển từ nhiều chương trình, nguồn vốn khác nhau. Kết quả thực hiện Đề án, đã bảo vệ được 295.164 ha rừng ven biển; phát triển rừng với tổng diện tích trồng 22.390ha; trồng 4 triệu cây phân tán.
Ngoài trồng rừng, các địa phương đã thực hiện nhiều hạng mục công trình bảo vệ bờ biển, hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng như: tu bổ đê, kè, xây dựng tường mềm chắn sóng, giữ bùn để gây bồi, tạo bãi trồng rừng và các công trình lâm sinh khác.
Nhìn chung, qua thời gian thực hiện Đề án 120 đã góp phần tạo sự chuyển biến trong nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và các thành phần xã hội, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của các tổ chức quốc tế đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng ven biển. Từ đó, góp phần nâng cao diện tích, chất lượng rừng, phát huy vai trò phòng hộ của rừng ven biển; thực hiện các cam kết, trách nhiệm với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ông Nguyễn Nam Sơn cũng chỉ rõ những hạn chế trong thực hiện Đề án 120. Điều này có thể thấy qua việc nhiều dự án trồng rừng ven biển triển khai thực hiện còn chậm, công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc của một số địa phương chưa quyết liệt.
Tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất quy hoạch cho trồng rừng ven biển sang mục đích khác, xâm lấn đất rừng để nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và các hoạt động trái phép khác vẫn diễn biến phức tạp; có nơi trở thành điểm nóng đã làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả trồng rừng ven biển. Các tỉnh vùng ven biển chưa thực hiện được chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho rừng ven biển. Nguyên nhân chính là do chưa xác định được rõ phạm vi và đối tượng chi trả, mức chi trả và các cơ chế chi trả. Điều này làm hạn chế nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ rừng ven biển.
Theo ông Vũ Tấn Phương - Giám đốc văn phòng chứng chỉ quản lý rừng bền vững, Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, diện tích rừng ven biển tuy khá nhỏ (chiếm 2% tổng diện tích rừng), nhưng tiềm năng giảm phát thải từ các giải pháp giảm nhẹ là khoảng 7% tổng lượng giảm phát thải quốc gia. Trong đó, các giải pháp giảm nhẹ cần tập trung vào bảo vệ diện tích rừng hiện có, tránh mất rừng, suy thoái rừng, nâng cao trữ lượng các bon rừng (làm giàu rừng) và cần ưu tiên tại các vùng có rừng ngập mặn phân bố lớn. Đồng thời, cần có các cơ hội thương mại giảm phát thải thông qua áp dụng các tiêu chuẩn các bon phù hợp để tạo nguồn tài chính và cải thiện sinh kế.
Tại Hội thảo, Đại diện của Chi cục Kiểm lâm, Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, đến nay, trên địa bàn tỉnh đã trồng được khoảng 141ha diện tích rừng ngập mặn.
Trong thời gian tới, tỉnh đề ra mục tiêu phát huy hơn nữa hiệu quả, vai trò, chức năng của rừng ngập mặn ven biển trong việc phòng hộ, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Đồng thời tạo thêm công ăn việc làm, thu nhập cho người dân vùng ven biển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Để đạt được mục tiêu trên, tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả toàn bộ diện tích rừng ngập mặn hiện có, trong đó tập trung đầu tư bảo vệ rừng ngập mặn xung yếu, rất xung yếu ở những vùng cửa sông, ven biển. Thứ nữa, tổ chức xây dựng các mô hình phát triển sinh kế cho cộng đồng vùng ven biển, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân theo hướng xã hội hóa với sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân có năng lực và điều kiện thực hiện.
Tại Hội thảo, ông Trần Quang Bảo, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá, công tác bảo vệ và phát triển rừng ven biển hiện còn rất nhiều vướng mắc. Cụ thể, đó là việc hiện trường trồng rừng ven biển ngày càng khó khăn, đất rừng ven biển thường xuyên bị biến động, thậm chí quỹ đất dành cho trồng rừng ven biển đã được quy hoạch nhưng việc gắn với phát triển du lịch, phát triển công nghiệp… tại các địa phương nên chịu nhiều sức ép. Đi cùng với đó là tình trạng xâm lấn, phá rừng để nuôi thủy san, chuyển đổi mô hình canh tác khác diễn ra tại nhiều địa phương cũng là những khó khăn trong việc khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng ven biển.
Ngoài ra là những khó khăn liên quan đến nguồn vốn rất lớn cho đầu tư trồng rừng ven biển; các mô hình phát triển sinh kế cho người dân mới chỉ ở mức mô hình, cần làm sao để phát triển bền vững và nhân rộng ra tại nhiều địa phương,…
Ông Trần Quang Bảo cho biết, để triển khai tốt Đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, trong thời gian tới, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của rừng ven biển. Cùng với đó, triển khai hài hòa lợi ích của quốc gia, các hộ gia đình… trong bảo vệ rừng ven biển; nâng cao chuỗi giá trị, chuỗi sinh kế để đảm bảo lợi ích của người dân và nhà nước.
Đồng thời, ưu tiên nguồn lực để bảo vệ và phát triển rừng ven biển, có chính sách xã hội hóa để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng ven biển. Song song với đó, các địa phương cần tiếp tục xây dựng kế hoạch khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng ven biển, rà soát quy hoạch sử dụng quỹ đất, ưu tiên bố trí kinh phí để thực hiện dự án đầu tư và phát triển rừng ven biển. Các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế hỗ trợ về kỹ thuật, nguồn vốn, xây dựng các mô hình khôi phục rừng ven biển.../.


