18/10/2026
x
+
aa
-

Vận hội mới cho ĐBSCL trên "đôi cánh" công - tư 

Bài 2: Thẳng thắn nhận diện, quyết tâm phá vỡ "gọng kìm"

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước của ĐBSCL hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh, chưa đáp ứng trọn vẹn yêu cầu và kỳ vọng trở thành lực lượng nòng cốt của nền kinh tế. Vấn đề cốt lõi là cộng đồng doanh nghiệp đất Chín Rồng thiếu nội lực tích lũy, thiếu tầng doanh nghiệp quy mô vừa, thiếu doanh nghiệp lớn đứng đầu dẫn dắt cả chuỗi giá trị cùng phát triển và quan trọng là thiếu cơ chế trợ lực giúp doanh nghiệp nhỏ phát triển, "thăng hạng" về quy mô.

Hạn chế về năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo

Cuối tháng 5 vừa qua, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố Báo cáo Kinh tế thường niên ĐBSCL năm 2025. Báo cáo chỉ rõ, vấn đề của toàn vùng không phải là thiếu lợi thế tài nguyên, mà là thiếu một lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để chuyển hóa những tiềm năng sẵn có thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững. Số liệu thống kê cho thấy sự thụt lùi đáng báo động: nếu như năm 2000, doanh nghiệp tư nhân ĐBSCL từng chiếm tới gần 25% tổng số doanh nghiệp cả nước, thì tỷ lệ này đến năm 2024 đã suy giảm chỉ còn khoảng 7%. Xét theo quy mô sử dụng lao động, tại ĐBSCL, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 87,8%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 9,5%, doanh nghiệp vừa chiếm 1,8% và doanh nghiệp lớn chỉ đạt tỷ lệ 0,9% .

Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ thường xuyên thăm hỏi tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Ảnh: MINH HUYỀN

Ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc VCCI chi nhánh ĐBSCL, cho biết: "Một nghịch lý của ĐBSCL: tuy mạnh về nông nghiệp nhưng thiếu doanh nghiệp đủ mạnh trong chính lĩnh vực này. Số doanh nghiệp nông nghiệp của vùng chiếm chưa tới 5%, trong khi nông nghiệp đóng góp hơn 30% GRDP toàn vùng. Bức tranh chung cho thấy ĐBSCL đã mất dần vị thế trên bản đồ kinh tế quốc gia khi ghi nhận tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp thấp nhất cả nước trong suốt giai đoạn 2015-2025. Thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động thích ứng với bối cảnh mới, trước hết là phải tiếp cận các mô hình quản lý và phương thức quản trị tiên tiến tương thích với trình độ khoa học và công nghệ hiện có".

Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước tại địa phương vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Tại một số doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng với nguồn lực được phân bổ, trong khi năng lực quản trị và tốc độ đổi mới sáng tạo còn chậm so với yêu cầu vận hành của nền kinh tế thị trường hiện đại. Tiến trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nhất là cổ phần hóa và thoái vốn ở một số lĩnh vực vẫn diễn ra chậm so với các mục tiêu đề ra. Đáng lo ngại hơn, ĐBSCL đang rất thiếu sự hiện diện của một khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo dẫn dắt trong các ngành chiến lược then chốt như logistics, năng lượng, môi trường, công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến sâu, hạ tầng số, kiểm định chất lượng và xây dựng hệ thống dữ liệu chuỗi giá trị nông - thủy sản, thay vì chỉ mỗi một số lĩnh vực công ích, độc quyền hay thậm chí cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân.

Dây chuyền sản xuất tại Công ty CP May Tây Đô. Ảnh: MỸ THANH

Những lực cản trên đẩy doanh nghiệp vào thế khó khăn kéo dài về tài chính. Ông Nguyễn Thanh Liêm, Phó Giám đốc Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Cần Thơ, chỉ rõ: Khó khăn nhất đối với doanh nghiệp vẫn là tài chính. Bởi, thiếu vốn đồng nghĩa với việc đình trệ sản xuất kinh doanh, không thể mở rộng quy mô đầu tư và bỏ lỡ cơ hội tiếp cận thị trường mới. Quy luật hoạt động của doanh nghiệp thường biến thiên theo đồ thị hình sin, khi lên đến cực đại sẽ có chu kỳ đi xuống cần trợ lực để hồi phục. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp cần vốn phục hồi, ngân hàng lại có tâm lý rút vốn do sợ rủi ro. Sự rút vốn này gây ra hiệu ứng dây chuyền. Nếu ai cũng sợ rủi ro thì không thể nào xây dựng được những doanh nghiệp đầu tàu.

Bẫy năng suất thấp và rào cản tích lũy vốn

Năng suất lao động là điểm nghẽn trực tiếp của mục tiêu phát triển doanh nghiệp vùng. Năng suất lao động của ĐBSCL hiện ở nhóm thấp nhất cả nước, khoảng 133 triệu đồng/lao động/năm, xấp xỉ vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Đáng chú ý hơn, năng suất lao động khu vực công nghiệp của ĐBSCL chỉ bằng khoảng một nửa mức trung bình cả nước, còn khu vực dịch vụ chỉ đạt khoảng 2/3. Điều này cho thấy ĐBSCL chưa tạo được các ngành và doanh nghiệp có giá trị gia tăng cao để kéo mặt bằng năng suất đi lên.

Theo ông Khổng Như Hiếu, Phó Giám đốc Công ty CP Đất Phương Nam, Đang cần tuyển dụng khoảng 1.000 lao động, nhưng đầu năm 2026 đến nay, công ty chỉ tuyển dụng được khoảng 200 lao động. Trong số này, tỷ lệ lao động nghỉ việc, hao hụt tự nhiên chiếm khoảng 4%. Nhìn chung, nguồn cung lao động phổ thông trong khu công nghiệp còn hạn chế. Lao động tuyển dụng vào chưa có tay nghề chế biến thủy sản, Công ty mất rất nhiều thời gian và chi phí để đào tạo từ đầu các kỹ năng cơ bản (như lột tôm, xếp khay, sơ chế...). Việc này làm tăng chi phí nhân công và chi phí vận hành.

Dây chuyền sản xuất thép cuộn của Công ty TNHH Thép Tây Đô. Ảnh: MINH HUYỀN

Để chinh phục thị trường trong nước và xuất khẩu, doanh nghiệp phải đứng trước nhiều áp lực, nhất là trước các tác động của kinh tế vĩ mô. Theo ông Huỳnh Trung Quang, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thép Tây Đô, những tháng đầu năm 2026, giá nguyên liệu đầu vào và chi phí logistics liên tục biến động, nhất là nguồn phế liệu nhập khẩu, ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản xuất và kế hoạch cân đối nguyên liệu. Thị trường tiêu thụ thép thành phẩm nội địa phục hồi chưa ổn định; hách hàng còn thận trọng trước biên động giá thép. Thị trường xuất khẩu chịu áp lực cạnh tranh lớn, đặc biệt tại Campuchia, nơi các nhà máy Trung Quốc cạnh tranh mạnh về giá. Những thách thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi sát diễn biến thị trường nguyên liệu trong nước và quốc tế; tăng cường nhập khẩu phế liệu khi thị trường ổn định hơn, nhất là từ Nhật Bản, Philippines, Hong Kong và các nguồn cung truyền thống; đồng thời mở rộng thu mua trong nước, rút ngắn thời gian thanh toán cho nhà cung cấp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Ở góc độ đầu tư, ĐBSCL đang nghiêng về duy trì hiện trạng hơn là mở rộng năng lực sản xuất mới. Tổng đầu tư của vùng tăng chậm hơn cả nước, tỷ lệ đầu tư/GRDP giảm từ 40% năm 2015 xuống còn 27% năm 2024, khiến cho tỷ trọng của ĐBSCL trong tổng đầu tư cả nước giảm từ 13% xuống còn 9%. Đây là tín hiệu rõ ràng về sự suy yếu của cường độ tích lũy vốn.

Cơ cấu đầu tư cũng cho thấy khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhưng chủ yếu là hộ gia đình và các doanh nghiệp siêu nhỏ. Vốn đầu tư hộ gia đình tăng từ 71.000 tỉ đồng lên 125.000 tỉ đồng giai đoạn 2014-2024, trong khi vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân chỉ tăng từ 36.000 tỉ đồng lên 91.000 tỉ đồng. Tích lũy vốn của vùng vì vậy còn nhỏ lẻ, có tính phòng thủ và chưa đủ để tạo ra các cụm ngành năng suất cao.

Công ty CP Việt Nam Food Hậu Giang giới thiệu các sản phẩm chế biến sâu do công ty nghiên cứu, phát triển. Ảnh: MINH HUYỀN

Theo ông Nguyễn Tường Nam, Phó Chủ tịch Thường trực lâm thời Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, để dòng vốn thực sự đi vào sản xuất kinh doanh và tạo ra tăng trưởng, không thể chỉ đặt trách nhiệm lên hệ thống ngân hàng. Thực tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn không hoàn toàn bắt nguồn từ chính sách tín dụng, mà từ những vướng mắc liên quan đến đất đai, quy hoạch, thủ tục đầu tư, xây dựng, các giấy phép chuyên ngành hoặc tiến độ giải phóng mặt bằng. Một dự án chưa hoàn chỉnh pháp lý, chưa rõ quy hoạch, chưa xác định được quyền sử dụng đất hoặc chưa hoàn tất thủ tục đầu tư thì dù ngân hàng có thiện chí cũng rất khó giải ngân. Vì vậy, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng phải được bắt đầu từ cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng thực thi của các sở, ngành. Khi các sở, ngành làm tốt vai trò kiến tạo, doanh nghiệp sẽ có phương án kinh doanh rõ ràng hơn, tài sản pháp lý đầy đủ hơn, dòng tiền minh bạch hơn và ngân hàng cũng giảm được rủi ro khi cấp tín dụng.

* * *

Để phá vỡ những "gọng kìm" đang kiềm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, ĐBSCL không thể chỉ dựa vào các nỗ lực đơn lẻ hay sự bứt phá tự thân của khu vực tư nhân. Lối ra cho bài toán tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 chính là chiến lược tối ưu hóa nguồn lực: cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước để giải phóng dư địa, đồng thời tạo cơ chế hấp dẫn để thu hút dòng vốn tư nhân vào các ngành thế mạnh.

(Còn tiếp)

MỸ THANH - MINH HUYỀN

Bài 3: Tái cơ cấu nguồn lực: Nhà nước mở đường, tư nhân dốc vốn

Top