24/08/2026
x
+
aa
-

Việt Nam cần tận dụng cơ hội phát triển ngành chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản

(ĐCSVN) - Năm 2020 ghi nhận ngành chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch COVID-19. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra về nguy cơ gian lận thương mại, cạnh tranh gay gắt từ các ngành khác, nguồn nguyên liệu trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, đòi hỏi ngành cần nỗ lực vượt qua.
 Một dây chuyền sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. (Nguồn ảnh: TTXVN)

Nhiều thách thức mới đặt ra

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), mặc dù năm 2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 nhưng ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực. Trong đó, giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản 11 tháng năm 2020 đạt 10,88 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2019. Bên cạnh đó, số lượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp chế biến lâm sản vẫn đảm bảo việc làm và thu nhập cơ bản ổn định.

Năm 2020 cũng ghi nhận năng suất lao động ngành chế biến gỗ, lâm sản tiếp tục được nâng lên, đến nay đạt khoảng 25.000 USD/người/năm, tăng 25% so với năm 2015 và tăng 47% so với năm 2010. Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư thiết bị hiện đại với hệ thống dây chuyền sản xuất tự động, tiết kiệm nguyên vật liệu, thân thiện với môi trường để sản xuất, chế biến đa dạng các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng trong nước và quốc tế.

Dù vậy, đánh giá của Bộ NN&PTNT cho thấy, ngành chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản nước ta hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại và khó khăn cần được quan tâm tháo gỡ để đảm bảo phát triển bền vững. Đó là việc các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ phân bố không đều trên cả nước mà chỉ tập trung vào một số tỉnh vùng Nam Trung bộ và Đông Nam bộ với số lượng doanh nghiệp chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu. Trong khi vùng nguyên liệu lại chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và duyên hải miền Trung, điều đó đã làm tăng chi phí vận chuyển và làm tăng giá thành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh.

Nguồn lao động cũng là một trong những điểm khó khăn của ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ, lâm sản khi lao động lành nghề, có trình độ mới chỉ chiếm tỷ lệ hơn 40%, còn lại là lao động phổ thông, trình độ chuyên môn thấp. Thực tế nguồn nhân lực, lao động chuyên ngành chế biến gỗ từ các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng, chưa đủ đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.

Về nguồn nguyên liệu, chất lượng gỗ từ rừng trồng trong nước hiện vẫn còn thấp. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu trên 10 triệu m3 gỗ nguyên liệu để chế biến sản phẩm xuất khẩu, từ đó, dẫn đến chi phí sản xuất tăng.

Trong khi đó về vấn đề thị trường, nhiều thách thức mới đặt ra khi chủ nghĩa bảo hộ của nhiều quốc gia và nguy cơ gian lận thương mại, giả xuất xứ hàng hóa đang có xu hướng tăng lên; cạnh tranh thương mại diễn ra phức tạp. Thị hiếu của người tiêu dùng các sản phẩm gỗ tại một số thị trường châu Âu thay đổi từ sử dụng đồ mộc ngoại thất bằng các loại sản phẩm thay thế như: nhựa, sắt thép và các vật liệu thân thiện với môi trường.

Ngành công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản đang phải cạnh tranh phát triển với các ngành công nghiệp khác ngày càng lớn. Trong bối cảnh tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 còn kéo dài, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu… là những thách thức không nhỏ tác động tới ngành công nghiệp chế biến gỗ trong thời gian tới.

Cơ hội nào cho ngành chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản Việt Nam?

Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng ngành chế biến xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam được nhận định vẫn còn nhiều cơ hội để mở rộng thị trường, nâng cao giá trị xuất khẩu. Điều này có thể thấy qua việc thị trường thương mại đồ nội thất của thế giới lớn, khoảng 450 tỷ USD giá trị thương mại/năm, trong đó có khoảng 150 tỷ USD giá trị thương mại của đồ nội thất bằng gỗ. Trong khi đó, hiện nay, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam mới chiếm khoảng trên 6% thị phần toàn cầu nên các doanh nghiệp có cơ hội để mở rộng, phát triển thị phần. Bên cạnh các thị trường truyền thống có giá trị xuất khẩu cao như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Hàn Quốc, còn một số thị trường tiềm năng có cơ hội mở rộng phát triển mới (Canada, Nga, Ấn Độ,…).

Việt Nam hiện có nhiều mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh như: viên nén, dăm gỗ, gỗ dán, gỗ ghép, đồ mộc xây dựng, ghế ngồi, các đồ nội thất và bộ phận đồ nội thất… Đặc biệt, với nhóm đồ nội thất có giá trị xuất khẩu lớn nhất trong các nhóm hàng xuất khẩu gỗ và lâm sản được đánh giá sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định trong thời gian tới.

Đặc biệt, với việc tham gia Hiệp định đối tác tự nguyện giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu về thực thi Luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT), EVFTA và các hiệp định thương mại khác đang mở ra nhiều cơ hội cho ngành chế biến, gỗ, lâm sản xuất khẩu của Việt Nam.

Đồng thời, việc Việt Nam đã phê chuẩn và đang triển khai theo lộ trình của các hiệp định thương mại tự do khác giúp thuế nhập khẩu nhiều mặt hàng của các nước tham gia hiệp định được cắt giảm hoặc xóa bỏ sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đây là những cơ hội rất tốt để các doanh nghiệp gỗ Việt vươn ra thị trường thế giới.

Nắm chắc các cơ hội mở ra, Bộ NN&PTNT cho biết, trong giai đoạn 2021 - 2025, ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản hướng đến mục tiêu trở thành ngành mũi nhọn trong sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam. Phấn đấu để Việt Nam trở thành một trong những nước đứng hàng đầu về sản xuất, chế biến và xuất khẩu gỗ, lâm sản có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế.

Trong đó, tiếp tục phát triển rừng trồng nguyên liệu theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng rừng, gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Đảm bảo cung cấp tối thiểu 80% nhu cầu nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong nước.

Về giá trị kim ngạch xuất khẩu, phấn đấu nâng thị phần thương mại đồ gỗ thế giới của Việt Nam từ 6% hiện lên khoảng10% vào năm 2025. Cụ thể, năm 2025, phấn đấu đạt 20 tỷ USD. Sản phẩm xuất khẩu vẫn tiếp tục chú trọng vào các mặt hàng chủ lực như sản phẩm gỗ nội thất gia đình, văn phòng, sản phẩm ngoại thất và lâm sản ngoài gỗ tại các thị trường lớn gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Trung Quốc và mở rộng tại một số thị trường tiềm năng tại các khu vực khác.

Về thị trường, tiếp tục duy trì tăng trưởng tại thị trường Hoa Kỳ, phấn đấu giá trị xuất khẩu năm 2021 đạt trên 6 tỷ USD. Đến năm 2025 sẽ đạt khoảng 8 tỷ USD, tăng 40% so với 2019. Đối với các thị trường Nhật Bản, EU, Hàn Quốc và Trung Quốc, tiếp tục mục tiêu tăng trưởng từ 10 - 12% trong năm 2021 và duy trì mức tăng trưởng bình quân 15%-20% trong giai đoạn 2021 - 2025.

Nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, theo Bộ NN&PTNT, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung và ban hành những quy định của Nhà nước để hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu lâm sản. Đặc biệt là phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn, gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững, công nghiệp sản xuất nguyên liệu phụ trợ; thương hiệu sản phẩm gỗ và lâm sản. Đồng thời mở rộng quy mô sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản.

Đáng chú ý, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về thương mại đối với ngành gỗ; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật về thương mại. Trong đó, cần quy định cụ thể về bảo đảm truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp; các quy định về phòng chống gian lận thương mại; về kiểm soát chặt chẽ việc cấp giấy, sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ sản phẩm… Tiếp tục nâng cao công tác kiểm tra, giám sát nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu; ưu tiên nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ các quốc gia có giao thương gỗ và lâm sản lớn, có nền quản trị rừng tiên tiến, thuận lợi trong quản lý, truy xuất nguồn gốc hợp pháp.

Cùng với các giải pháp trên, cần áp dụng khoa học công nghệ tiến tiến trong phát triển rừng theo chuỗi, từ công tác chọn tạo giống, trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả 3,4 triệu ha rừng trồng sản xuất hiện có, đảm bảo tối thiểu 75% diện tích rừng trồng mới từ năm 2020 được trồng thâm canh, cung cấp gỗ lớn.

Nguồn nhân lực có chất lượng cao cũng là một trong những giải pháp được ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ, lâm sản chú ý đến. Trong đó, cần xây dựng chương trình quốc gia về phát triển nguồn nhân lực cho ngành chế biến gỗ Việt Nam; chú trọng việc đào tạo kiến thức và kỹ năng, tay nghề phù hợp với sản xuất sản phẩm gỗ, nâng cao trình độ vận hành máy móc, thiết bị, nghiệp vụ quản lý, điều hành sản xuất.

Ngoài ra, cần tập trung ưu tiên phát triển hạ tầng, mở rộng và hình thành các khu, cụm công nghiệp chế biến gỗ tập trung để cắt giảm chi phí sản xuất, thuận tiện trong sản xuất chế biến. Tiếp tục đầu tư, phát triển dịch vụ logistic ngành chế biến gỗ; gắn kết quy hoạch khu, cụm công nghiệp chế biến gỗ với quy hoạch vùng nguyên liệu./.

BT

Other news

Thực phẩm chế biến sẵn, thêm lựa chọn cho bữa ăn nhanh 
Thị trường thực phẩm đông lạnh chế biến sẵn ngày càng đa dạng về chủng loại, thương hiệu và mức giá, đáp ứng nhu cầu chuẩn bị bữa ăn nhanh, tiện lợi của người tiêu dùng.
Mở rộng không gian hợp tác Cần Thơ - Nhật Bản 
Nhật Bản tiếp tục là một trong những đối tác được TP Cần Thơ chú trọng trong hoạt động đối ngoại, kinh tế, thương mại và đầu tư. Thông qua các hoạt động giao lưu, hợp tác, thành phố từng bước mở rộng kết nối với các địa phương, tổ chức và doanh nghiệp Nhật Bản.
Nắm bắt cơ hội, tuân thủ quy định để chinh phục thị trường Hoa Kỳ 
Thị trường Hoa Kỳ mở ra cơ hội xuất khẩu lớn nhưng đòi hỏi khắt khe về chất lượng và phòng vệ thương mại. Các chuyên gia khuyến nghị doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ và tăng sức cạnh tranh bằng chất lượng, uy tín và thương hiệu.
Bộ Xây dựng xem xét hồ sơ Quy hoạch Cảng Hàng không Quốc tế Cần Thơ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050 
(CT) - Triển khai Quyết định số 1140/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Nâng cao năng lực đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án giao thông 
(CTO) - Ngày 21-8, Ngân hàng Thế giới phối hợp Sở Tài chính TP Cần Thơ tổ chức Hội thảo “Giới thiệu Sổ tay hướng dẫn phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án giao thông”.
Top