Biến đổi khí hậu và vấn đề đặt ra
(ĐCSVN) - Thời gian gần đây, Việt Nam đã và đang chịu tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Thực tế cho thấy, biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề gây hậu quả rất nghiêm trọng cho cả kinh tế và xã hội. 
Việt Nam là một trong 5 quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu. Phần lớn dân số và tài sản kinh tế tập trung tại các vùng đồng bằng ven biển và hệ thống các sông. Theo số liệu của Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam tăng 0,26 độ C mỗi thập kỷ kể từ năm 1971, tức là cao gấp đôi so với tốc độ tăng bình quân trên toàn cầu. Theo xu thế hiện nay, nhiệt độ trung bình hàng năm vào năm 2040 sẽ cao hơn 0,6 đến 1,2 độ C so với giai đoạn 1980 - 1999 tùy từng địa phương. Kết quả dự báo cho thấy các đợt nóng, lạnh sẽ tăng cường và mực nước biển sẽ dâng thêm 28 - 33cm tại các vùng biển của Việt Nam; nếu có hiện tượng lún đất, thì sẽ làm cho mực nước biển dâng cao càng thêm trầm trọng hơn.
Biến thiên lượng mưa giữa các mùa dự báo cũng sẽ tăng, mùa mưa sẽ mưa nhiều hơn và mùa khô sẽ khô hơn. Mưa lớn và lũ lụt sẽ xảy ra thường xuyên hơn, nhất là tại phía Bắc, bao gồm cả Hà Nội. Tại vùng núi nguy cơ sạt lở đất sẽ tăng. Quỹ đạo bão đã dịch chuyển dần xuống phía Nam trong vòng 5 thập kỷ qua. Nếu xu thế này cứ tiếp diễn, thành phố Hồ Chí Minh sẽ chịu rủi ro lớn hơn từ những tác động trực tiếp. Những rủi ro khác có thể xẩy ra như xói lở bờ biển và xâm thực mặn cũng sẽ tăng lên trong thời gian tới. Hiện tượng này đang sảy ra ở một số tỉnh miền Trung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là một ví dụ điển hình.
Nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa, dự kiến sẽ bị ảnh hưởng mạnh, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị tác động nghiêm trọng nhất. Tại đó nhiều diện tích đất chỉ cao hơn mặt nước biển có 2 m. Biến đổi khí hậu có thể làm giảm sản lượng gạo từ 3 - 9 triệu tấn vào năm 2050, còn các diện tích chuyên canh cà phê năng suất cao có thể không còn phù hợp nữa. Hệ sinh thái biển của Việt Nam cũng sẽ bị tác động nghiêm trọng. Tác động của biến đổi khí hậu cũng sẽ để lại những hệ quả tiêu cực về sức khoẻ như các bệnh truyền nhiễm do nước, truyền nhiễm qua vật chủ trung gian, các bệnh tiêu chảy. Lũ lụt sẽ làm cho rủi ro đó trở nên nghiêm trọng hơn. Người nghèo và người cao tuổi đặc biệt dễ bị tổn thương bởi những đợt nóng khắc nghiệt, nhất là khi dân số cao tuổi ở Việt Nam đang tăng nhanh.
Có thể thấy, nguy cơ do biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm những hệ lụy do sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững và suy thoái môi trường. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu do vị trí địa lí, tập trung dân cư đông ở các vùng đồng bằng thấp và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào các ngành kinh tế dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu. Các dự báo về lượng mưa, nhiệt độ và mực nước biển cho thấy, các địa bàn có mật độ dân số cao và quan trọng về kinh tế phải đối mặt với rủi ro lớn.
Những nguy cơ từ biến đổi khí hậu cho thấy cần phải có cách tiếp cận dựa trên thông tin đầy đủ về các yếu tố dân số, kinh tế - xã hội, chính trị và sinh thái tự nhiên trong quyết định về phân bổ nguồn lực, phối hợp trong qui hoạch và sử dụng đất đai và những tài nguyên khác. Để giảm thiểu nguy cơ do biến đổi khí hậu cần phát triển theo định hướng chống chịu với khí hậu lâu dài.
Về dài hạn, đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu có thể theo hướng cần thực hiện là đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực tài nguyên, năng lượng và công nghiệp nặng.
Tăng trưởng theo hướng đó cũng đòi hỏi cần xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn, ví dụ an toàn sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản hoặc nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Cần đẩy mạnh cung cấp dịch vụ và hàng hóa công để tạo thuận lợi cho khu vực tư nhân tham gia nhiều hơn vào đầu tư xanh. Các sản phẩm năng lượng (nhất là điện) nếu được định giá tốt hơn sẽ giúp cải thiện hiệu suất sử dụng, đồng thời thu hút thêm đầu tư tư nhân.
Cần khuyến khích nhiều hơn tư nhân đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo khác hơn, thay chỉ là vào thuỷ điện. Nhờ đó, tỷ trọng điện sản xuất bằng nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, mặt trời, và sinh khối kết hợp với khí thiên nhiên sạch sẽ được nâng cao, góp phần sử dụng nguồn nước để phục vụ cho thuỷ điện cũng như sản xuất nông nghiệp sẽ hiệu quả hơn…/.

Thiên tai đã gậy thiệt hại nặng nề đối với sản xuất nông nghiệp. (Ảnh: Đ.H)
Về tổng thể trên phạm vi toàn cầu, biến đổi khí hậu đã và đang tác động mạnh mẽ, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Theo một số dự báo của các nhà khoa học, khí thải nhà kính dự kiến sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng thêm 3,5 - 4 độ C vào cuối thế kỷ này. Điều kiện khí hậu, các đợt nóng và những hiện tượng thời tiết cực đoan khác hiện nay được coi là rất bất thường và chưa từng có, nhưng sẽ trở thành hiện tượng thường xuyên hơn trong tương lai. Hiện nay, đã thấy rõ tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu như bão lớn diễn ra thường xuyên hơn nhiều trong vòng 35 năm trở lại đây. Lượng băng tại Bắc cực đã giảm xuống mức kỷ lục, mực nước biển dâng 10 - 20 cm trong vòng 1 thế kỷ qua và tốc độ dâng ngày càng cao hơn. Nước biển dâng làm tăng rủi ro triều cường và biến động bất thường về lượng mưa.Việt Nam là một trong 5 quốc gia dễ bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu. Phần lớn dân số và tài sản kinh tế tập trung tại các vùng đồng bằng ven biển và hệ thống các sông. Theo số liệu của Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam tăng 0,26 độ C mỗi thập kỷ kể từ năm 1971, tức là cao gấp đôi so với tốc độ tăng bình quân trên toàn cầu. Theo xu thế hiện nay, nhiệt độ trung bình hàng năm vào năm 2040 sẽ cao hơn 0,6 đến 1,2 độ C so với giai đoạn 1980 - 1999 tùy từng địa phương. Kết quả dự báo cho thấy các đợt nóng, lạnh sẽ tăng cường và mực nước biển sẽ dâng thêm 28 - 33cm tại các vùng biển của Việt Nam; nếu có hiện tượng lún đất, thì sẽ làm cho mực nước biển dâng cao càng thêm trầm trọng hơn.
Biến thiên lượng mưa giữa các mùa dự báo cũng sẽ tăng, mùa mưa sẽ mưa nhiều hơn và mùa khô sẽ khô hơn. Mưa lớn và lũ lụt sẽ xảy ra thường xuyên hơn, nhất là tại phía Bắc, bao gồm cả Hà Nội. Tại vùng núi nguy cơ sạt lở đất sẽ tăng. Quỹ đạo bão đã dịch chuyển dần xuống phía Nam trong vòng 5 thập kỷ qua. Nếu xu thế này cứ tiếp diễn, thành phố Hồ Chí Minh sẽ chịu rủi ro lớn hơn từ những tác động trực tiếp. Những rủi ro khác có thể xẩy ra như xói lở bờ biển và xâm thực mặn cũng sẽ tăng lên trong thời gian tới. Hiện tượng này đang sảy ra ở một số tỉnh miền Trung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là một ví dụ điển hình.
Nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa, dự kiến sẽ bị ảnh hưởng mạnh, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị tác động nghiêm trọng nhất. Tại đó nhiều diện tích đất chỉ cao hơn mặt nước biển có 2 m. Biến đổi khí hậu có thể làm giảm sản lượng gạo từ 3 - 9 triệu tấn vào năm 2050, còn các diện tích chuyên canh cà phê năng suất cao có thể không còn phù hợp nữa. Hệ sinh thái biển của Việt Nam cũng sẽ bị tác động nghiêm trọng. Tác động của biến đổi khí hậu cũng sẽ để lại những hệ quả tiêu cực về sức khoẻ như các bệnh truyền nhiễm do nước, truyền nhiễm qua vật chủ trung gian, các bệnh tiêu chảy. Lũ lụt sẽ làm cho rủi ro đó trở nên nghiêm trọng hơn. Người nghèo và người cao tuổi đặc biệt dễ bị tổn thương bởi những đợt nóng khắc nghiệt, nhất là khi dân số cao tuổi ở Việt Nam đang tăng nhanh.
Có thể thấy, nguy cơ do biến đổi khí hậu làm trầm trọng thêm những hệ lụy do sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững và suy thoái môi trường. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu do vị trí địa lí, tập trung dân cư đông ở các vùng đồng bằng thấp và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào các ngành kinh tế dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu. Các dự báo về lượng mưa, nhiệt độ và mực nước biển cho thấy, các địa bàn có mật độ dân số cao và quan trọng về kinh tế phải đối mặt với rủi ro lớn.
Những nguy cơ từ biến đổi khí hậu cho thấy cần phải có cách tiếp cận dựa trên thông tin đầy đủ về các yếu tố dân số, kinh tế - xã hội, chính trị và sinh thái tự nhiên trong quyết định về phân bổ nguồn lực, phối hợp trong qui hoạch và sử dụng đất đai và những tài nguyên khác. Để giảm thiểu nguy cơ do biến đổi khí hậu cần phát triển theo định hướng chống chịu với khí hậu lâu dài.
Về dài hạn, đầu tư cho ứng phó với biến đổi khí hậu có thể theo hướng cần thực hiện là đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực tài nguyên, năng lượng và công nghiệp nặng.
Tăng trưởng theo hướng đó cũng đòi hỏi cần xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn, ví dụ an toàn sinh học trong chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản hoặc nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Cần đẩy mạnh cung cấp dịch vụ và hàng hóa công để tạo thuận lợi cho khu vực tư nhân tham gia nhiều hơn vào đầu tư xanh. Các sản phẩm năng lượng (nhất là điện) nếu được định giá tốt hơn sẽ giúp cải thiện hiệu suất sử dụng, đồng thời thu hút thêm đầu tư tư nhân.
Cần khuyến khích nhiều hơn tư nhân đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo khác hơn, thay chỉ là vào thuỷ điện. Nhờ đó, tỷ trọng điện sản xuất bằng nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, mặt trời, và sinh khối kết hợp với khí thiên nhiên sạch sẽ được nâng cao, góp phần sử dụng nguồn nước để phục vụ cho thuỷ điện cũng như sản xuất nông nghiệp sẽ hiệu quả hơn…/.
Đặng Hiếu

