16/06/2026
x
+
aa
-

Chủ động đảm bảo nguồn nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp 

Những năm gần đây, hạn hán và xâm nhập mặn có xu hướng gia tăng tại ĐBSCL do biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng và tác động từ các hoạt động khai thác ở thượng nguồn sông Mekong làm suy giảm, thay đổi quy luật dòng chảy. Điều này đòi hỏi các địa phương có giải pháp chủ động nguồn nước trong các tháng mùa khô để phục vụ sản xuất nông nghiệp và đảm bảo các hoạt động sinh kế cho người dân.

Chủ động trữ nước trong mương vườn cây ăn trái là giải pháp rất quan trọng giúp nông dân đảm bảo nguồn nước tưới cho cây trồng trong mùa khô.

Yêu cầu đảm bảo nguồn nước ngọt

ĐBSCL đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do BĐKH, nước biển dâng, xâm nhập mặn và nguy cơ thiếu nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp. Thực tế nơi đây đã xuất hiện các đợt xâm nhập mặn xảy ra nghiêm trọng trong các mùa khô 2015-2016 và 2019-2020 khiến nhiều nơi bị thiếu nước ngọt. Do vậy, chủ động đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp là vấn đề rất cấp thiết, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, gia tăng xuất khẩu nông sản và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

TS. Trần Thái Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, cho biết: “ĐBSCL trước đây có nguồn nước khá dồi dào, đặc biệt là nước ngọt được cung cấp đầy đủ ngay cả trong mùa khô. Tuy nhiên, những năm gần đây, nguồn nước từ thượng nguồn về ĐBSCL suy giảm do BĐKH và nhu cầu nguồn nước phục vụ sản xuất tại các quốc gia thượng nguồn trong khu vực tăng mạnh, nhất là vào mùa khô. Điều này khiến lượng nước về ĐBSCL suy giảm, làm gia tăng khả năng xâm nhập mặn tại nhiều nơi, tăng nguy cơ thiếu nước sản xuất”.

Dù nhiều khu vực ở ĐBSCL đã chủ động được nước tưới nhờ hệ thống thủy lợi, nhưng những nơi hạ tầng chưa hoàn thiện vẫn đối mặt với rủi ro hạn mặn và các điều kiện sản xuất bất lợi. Theo Viện Khoa học thủy lợi miền Nam thuộc Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ĐBSCL đang định hình với nhiều khác biệt so với quá khứ do tác động của BĐKH, nước biển dâng, sụp lún đất, hạ mực nước sông cùng với các hoạt động phát triển ở thượng lưu Mekong. Từ đó, làm cho ĐBSCL ít có lũ lớn, gia tăng xâm nhập mặn, đe dọa an ninh nước ngọt và các vấn đề tăng ngập lụt do lún sụp, khó tiêu thoát nước, gia tăng xói lở bờ biển, bờ sông.

Cần giải pháp đồng bộ

Các cơ quan chức năng ở Trung ương, các địa phương và người dân trong vùng chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp, bao gồm các giải công trình và phi công trình. Trong đó, cần tiếp tục đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng thủy lợi để kiểm soát nguồn nước và xâm nhập mặn, cùng các công trình chuyển nước, trữ nước ngọt.

Song song đó, cần nghiên cứu xây dựng công trình kiểm soát các cửa sông Vàm Cỏ, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu… Nâng cấp và mở rộng hệ thống các đê biển phù hợp với gia tăng đỉnh triều do nước biển dâng và sụt lún đồng bằng. Xây dựng các công trình kết nối, chuyển nước từ thượng lưu hoặc các vùng có nhiều nước ngọt đến các vị trí khan hiếm nước. Tăng cường nâng cao năng lực dự báo nguồn nước, xâm nhập mặn để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp phù hợp với tình hình nguồn nước. Rà soát, xây dựng quy trình vận hành liên hệ thống thủy lợi để tăng cường kết nối nguồn nước, nâng cao hiệu quả khai thác công trình thủy lợi.

Theo ông Trần Minh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thủy nông và Cấp nước, Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, cần hiện đại hóa và chuyển đổi số trong quản lý, vận hành các công trình thủy lợi. Đồng thời, tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp, phân ranh nguồn nước của các công trình thủy lợi. Khi xảy ra hạn mặn, cần điều chỉnh mùa vụ linh hoạt.

Để quản lý, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả gắn với nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, các địa phương vùng ĐBSCL và cơ quan chức năng cần chú ý hướng tới quản trị tiên tiến, hiện đại gắn với chuyển đổi từ duy sản xuất nông nghiệp với việc tối đa hóa sản lượng sang tư duy kinh tế với tối đa hóa giá trị. Lấy tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi, xem nước ngọt, nước mặn, nước lợ đều là tài nguyên. Từ đó, có cách bố trí, phát triển sản xuất các loại cây trồng và vật nuôi phù hợp từng địa phương, từ tiểu vùng, giúp giảm nhu cầu sử dụng nước ngọt nhưng vẫn nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân. Đặc biệt, việc trữ nước ngọt bằng nhiều hình thức và quy mô khác nhau là giải pháp rất quan trọng nhằm đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh.

Theo Trung tâm Nghiên cứu thủy nông và Cấp nước thuộc Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, đơn vị đã đề xuất nhiều giải pháp và loại hình công trình chứa nước phân tán hiệu quả, giúp người dân trữ nước trong mùa khô phục vụ cây trồng. Cụ thể như trữ nước trong ao, kênh rạch cụt và trong mương vườn cây ăn trái; trữ nước trên ruộng lúa trước thời điểm dự báo có ảnh hưởng của hạn mặn… Đây là những mô hình phù hợp điều kiện sản xuất, sinh sống và khả năng chi trả của đại đa số nông dân.

Bài, ảnh: KHÁNH TRUNG

Other news

Tăng cường quản lý, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định 
(CT) - Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, hiện công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên địa bàn TP Cần Thơ được thực hiện nghiêm túc...
Tăng cường trồng cây xanh bảo vệ môi trường, chống sạt lở 
(CT) - Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, đầu năm 2026 đến nay, đơn vị phối hợp cùng ngành chức năng, các địa phương, doanh nghiệp trồng cây xanh phân tán ở khu vực đô thi, nông thôn, rừng phòng hộ, đạt hiệu quả cao và tiếp tục phát huy thời gian tới.
Diện tích, sản lượng thủy sản nuôi tăng so với cùng kỳ 
(CT) - Theo Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, đầu năm 2026 đến nay, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố tiếp tục phát triển ổn định, diện tích thả nuôi và sản lượng thu hoạch tăng so với cùng kỳ.
Chuyển đổi tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp 
Việc chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết để phát triển nông nghiệp bền vững, tích hợp đa giá trị và tăng thu nhập cho nông dân.
Hành trình bảo tồn giống lúa mùa truyền thống của anh Tư Việt 
“Nghe kể về hành trình bảo tồn 40 giống lúa mùa truyền thống của anh, lòng tôi dâng lên niềm tự hào. Những giống lúa ấy không chỉ là hạt giống của đất trời mà còn là ký ức, là hồn cốt của người miền Tây qua bao thế hệ.
Top