Có ”lỗ hổng” trong việc cấp, đăng ký chứng nhận VietGAP?
Mượn danh VietGAP, vì đâu nên nỗi?

Qua vụ việc rau Ba Chữ, người ta phát hiện ra rằng, để trở thành đối tác và được cung cấp rau cho hệ thống các siêu thị, các nhà cung cấp rau phải có trong tay từ 4-5 loại giấy tờ kèm theo. Đầu tiên là Giấy đầu tư cấp phép kinh doanh (Sở Kế hoạch – Đầu tư cấp); Giấy chứng nhận vùng đủ điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP) trong sản xuất rau; Giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP trong sơ chế rau (Sở NN&PTNT Hà Nội cấp) và một số giấy tờ khác liên quan như các mẫu phân tích rau (nơi yêu cầu nơi không), hóa đơn chứng từ, phiếu xuất kho… Những giấy tờ đó được mặc định là “giấy thông hành” để các doanh nghiệp, hợp tác xã (DN, HTX) đưa rau vào hệ thống siêu thị. Nhưng theo Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) Hà Nội thì những loại giấy tờ như: Giấy chứng nhận vùng đủ điều kiện ATTP trong sản xuất cũng như trong sơ chế chỉ có tác dụng, ý nghĩa chứng minh là đối tác này trồng rau trên vùng đã được cơ quan chức năng phân tích mẫu đất, nước, không khí đủ điều kiện để tiến hành sản xuất rau an toàn cũng như nhà xưởng, thiết bị, nguồn nước đủ điều kiện để sơ chế đóng RAT. Còn để chứng minh cụ thể từng mặt hàng, loại rau, lô rau có an toàn hay không phải do DN, HTX tự công bố và tự chịu trách nhiệm. Đây chính là kẽ hở để các DN, HTX làm ăn không nghiêm túc có thể lấy rau không rõ nguồn gốc hoặc không đủ điều kiện ATVSTP tuồn vào siêu thị.
Còn với vụ việc heo nhiễm chất cấm lợi dụng VietGAP, ngoài “khoảng trống” quản lý trong thời gian 2 năm khi các nông hộ được cấp giấy chứng nhận VietGAP, thì nguy cơ heo VietGAP bị “mượn danh” trong quá trình từ người nuôi đến người tiêu dùng là rất lớn. Hơn nữa, do hầu hết heo VietGAP lại vẫn chủ yếu được bán cho các thương lái. Khi nông dân bán heo VietGAP cho thương lái, ngoài các thủ tục kiểm dịch thông thường, cán bộ thú y phải đóng dấu VietGAP cho heo. Tuy nhiên, trong quy định về kiểm dịch động vật của Bộ NN&PTNT, cán bộ thú y không thực hiện việc kiểm tra dư lượng chất cấm trong heo VietGAP. Đặc biệt, trong quá trình gom heo, nếu thương lái trộn heo thường vào heo VietGAP thì không thể phát hiện được. Ngay cả khi đưa heo lên xe và niêm phong thì cũng có khả năng niêm phong bị phá và trộn heo rồi gắn niêm phong trở lại mà cơ quan chức năng rất khó kiểm tra.
Với những vi phạm tiêu cực phát hiện trên, người ta đang đặt ra một câu hỏi việc quản lý nguồn gốc các sản phẩm chăn nuôi VietGAP nói riêng và các nông sản VietGAP nói chung liệu có “lỗ hổng” và chưa thực sự liên kết được theo quy trình an toàn “từ trang trại đến bàn ăn”?
Theo quy định, nếu Cục Trồng trọt kiểm tra và phát hiện các đơn vị vi phạm, chào bán chứng nhận VietGAP, Cục sẽ hủy chỉ định 1 năm. Tuy nhiên, theo chuyên gia, mức xử phạt như vậy là quá nhẹ và không đủ sức răn đe.
Thực tế cho thấy, dù thực hiện theo VietGAP nhưng những sản phẩm từ mô hình này có giá không khác biệt nhiều so với giá các sản phẩm sản xuất theo cách thông thường, trong khi chi phí theo VietGAP khá tốn kém. Đây có thể được coi là một trong những rào cản ảnh hưởng đến việc phát triển của mô hình sản xuất này.
Theo Cục Trồng trọt, khó khăn lớn nhất trong việc áp dụng VietGAP là việc triển khai quy hoạch vùng sản xuất ở các địa phương còn chậm, diện tích quy hoạch các vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung còn rất ít. Đến nay, tổng diện tích trồng rau an toàn cả nước mới chỉ đạt 8 - 8,5%, diện tích trồng quả và chè 20%. Thậm chí nhiều địa phương vẫn chưa quy hoạch được vùng sản xuất an toàn hoặc còn rất manh mún, nhỏ lẻ.
Còn theo Cục Bảo vệ thực vật, tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ là đầu mối lây lan dịch hại, mầm bệnh. Không chỉ vậy, có đến 90% nông dân lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng thuốc không đúng liều lượng, dùng nhiều loại thuốc để phun và không đảm bảo thời gian cách ly. Các nhà chuyên môn lý giải rằng, thực trạng diện tích sản xuất manh mún, nhiều giống cây không đạt chất lượng, vấn đề lạm dụng thuốc trừ sâu vẫn chưa thể dứt bỏ, công nghệ sau thu hoạch yếu kém, đầu ra còn bỏ ngỏ là thách thức lớn đối với việc thực hiện cũng như mở rộng mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.
Để VietGAP thực sự là niềm tin về an toàn

Bản thân Cục Trồng trọt cũng cho rằng, để các sản phẩm an toàn, sản phẩm VietGAP đến với người tiêu dùng, các đơn vị liên quan cần xây dựng quy trình thẩm định và quản lý thị trường cho các sản phẩm an toàn thông qua việc củng cố quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giám sát, xử phạt... đồng thời có những chính sách hỗ trợ và nhân rộng các mô hình sản xuất an toàn trên quy mô lớn cùng với đó, tuyên truyền nhận thức của người tiêu dùng về các sản phẩm an toàn.
Chính Bộ NN&PTNT đã xác định rõ thị trường là cơ sở chính để cải thiện chất lượng, nhà nước với vai trò hỗ trợ, đặc biệt là đảm bảo chất lượng giống cây trồng địa phương, phân bón, thức ăn chăn nuôi và vật tư nông nghiệp khác. Tuy nhiên, với việc triển khai chương trình quốc gia ATTP giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030, Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện bộ khung pháp lý, quản lý tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật canh tác VSATTP. Theo đó, các đơn vị cơ sở phải tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức cho cả người sản xuất và người tiêu dùng về ATTP đồng thời tuyên truyền về các sản phẩm nông sản an toàn hướng tới cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Rõ ràng, VietGAP được coi là “chìa khóa” để đưa nông sản Việt Nam ra thế giới nhiều hơn với giá cao hơn. Tuy nhiên, để các vùng sản xuất nông sản đạt được quy chuẩn này không dễ bởi tư duy làm ăn riêng lẻ, trình độ sản xuất của nông dân còn hạn chế, dẫn đến sự lúng túng khi tiếp cận và áp dụng.
Ông Joseph Ekman, một chuyên gia quốc tế về ATTP nông sản cho rằng, chương trình VietGAP của Việt Nam trước hết phải tập trung vào ATTP vì đây là mối quan tâm hàng đầu của kỹ nghệ thực phẩm quốc tế. Chương trình VietGAP nên dựa vào mô hình GAPASEAN để bảo đảm phù hợp với các chương trình liên vùng và quốc tế về ATTP. Trong khi đó theo các chuyên gia trong nước, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng trong khu vực và quốc tế nhưng nông dân vẫn còn làm ăn riêng lẻ, nông sản bán qua trung gian, khiến sản phẩm không có thương hiệu. Vì vậy, chúng ta phải xác định rõ khuyến khích nhà nông làm sản phẩm gì, vùng nào có thế mạnh thì phải phát triển bằng được. Muốn có thương hiệu tốt phải bắt đầu từ nguyên liệu ổn định. Nếu các “nhà” cùng chung tay giải quyết được những vấn đề khó khăn trên, chắc chắn các vùng chuyên canh nông sản của nước ta đều có thể thực hiện tốt quy trình VietGAP.
Thực tiễn đòi hỏi cần thiết phải sửa đổi, nâng cấp VietGAP rau, quả, chè, chăn nuôi… Đó là yêu cầu ghi chép và lập hồ sơ lưu trữ về quá trình sản xuất còn nhiều phức tạp và vượt quá năng lực và chưa phù hợp với thói quen của nông dân. VietGAP còn có một số yêu cầu khó, không thực tế (các yêu cầu về đất, về nước của vùng sản xuất, sử dụng thuốc BVTV, kho chứa hóa chất, thuốc BVTV; ghi chép hồ sơ ở một số nội dung không khả thi đối với cây hàng năm, chủng loại đa dạng...). Ngoài ra, VietGAP chưa quy định rõ về yêu cầu quản lý nhóm đối với nhà sản xuất là tổ chức đăng ký chứng nhận nên cũng đã gây khó khăn trong đánh giá chứng nhận cho đối tượng này.
Nhiều ý kiến còn cho rằng, nên tìm hiểu thị trường cần cái gì thì nghiên cứu và sản xuất theo nhu cầu đó. Nghĩa là xuất khẩu hàng sang nước nào thì đáp ứng luôn tiêu chuẩn của thị trường nước đó luôn. Cần lựa chọn xong sân chơi rồi hãy xây dựng tiêu chuẩn. Chứ không thể áp một tiêu chuẩn chung cho tất cả các thị trường trên thế giới.
Không phủ nhận rằng, sản phẩm có chứng nhận VietGAP ở Việt Nam ngày càng được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn. Tuy nhiên, nếu công tác hậu kiểm không được thực hiện thường xuyên thì nguy cơ thực phẩm bẩn mất VSATTP giả danh TPAT vẫn có thể xảy ra.
Theo các chuyên gia, sản phẩm được nhận chứng nhận VietGAP chỉ là một khâu chứng nhận ban đầu về quy trình sản xuất an toàn. Để đảm bảo độ an toàn của sản phẩm phải kiểm tra đánh giá được cơ quan chức năng như lấy mẫu xét nghiệm. Tuy nhiên, hiện nay, việc hậu kiểm là khá khó khăn, vì các cơ sở được chứng nhận VietGAP nhiều, trong khi việc xét nghiệm mẫu khá đắt, khoảng 7 triệu đồng/mẫu rau…
Quả thực, nếu công tác hậu kiểm không được kiểm soát thì VietGAP cũng rất dễ bị trà trộn thực phẩm không đảm bảo. Tiêu chuẩn VietGAP rất tốt nhưng nếu mỗi năm chỉ kiểm tra lại một lần để cấp giấy chứng nhận sẽ khó đảm bảo an toàn. Trong khi đó, cứ sau vài tuần, vài tháng là một đợt sản xuất rau, củ... lại được tung ra thị trường. Do vậy, để đảm bảo chất lượng nông sản thì khâu kiểm tra, giám sát đồng ruộng là rất quan trọng.
Trước mắt, theo Bộ NN&PTNT, để làm tốt công tác hậu kiểm ATTP, cần xã hội hóa công tác phát hiện, kiểm tra. Bộ NN&PTNT đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể tổ chức tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức về thực phẩm an toàn. Đây sẽ là những tai mắt để giám sát những tổ chức, cá nhân làm ăn gian dối. Tuy nhiên, Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra lại các đơn vị đã được chứng nhận cũng như toàn bộ quy trình này.
Bên cạnh đó, cũng cần phải tổ chức tập huấn và kiểm tra, cấp chứng nhận VietGAP chặt chẽ. Tạm thời, trong lúc này, người dân vẫn nên tin tưởng vào khẳng định của Cục Trồng trọt rằng “Trong quá trình giám sát, Cục chưa phát hiện hiện tượng mua bán giấy chứng nhận nào”. Bởi theo Cục, để giám sát hoạt động cấp chứng nhận VietGAP, Cục đã thanh kiểm tra theo quy định. Với 23 đơn vị cấp VietGAP được Cục chỉ định, Cục kiểm tra ít nhất 2 lần trong 5 năm; với 1.454 cơ sở được cấp VietGAP, Cục kiểm tra đột xuất và theo kế hoạch, nghĩa là, số đối tượng phải kiểm tra lên tới gần 1.500 đơn vị. Về hành vi chào bán chứng nhận VietGAP, Cục Trồng trọt cho biết sẽ kiểm tra và nếu đúng sẽ xử lý nghiêm theo quy định.
| Chương trình VietGAP không chỉ là tấm giấy chứng nhận Phong trào sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đang được thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước, còn là cơ hội để nông dân thay đổi cách làm từ trước đến nay. Mục tiêu của việc thực hiện VietGAP không phải chỉ để được cấp giấy chứng nhận, mà quan trọng là người dân phải tự thay đổi thói quen canh tác của mình. Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), diện tích trồng trọt trên cả nước áp dụng theo tiêu chuẩn VietGAP hiện là 25.000 ha. Còn Cục Chăn nuôi cho biết, hiện toàn quốc có khoảng hơn 100 trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP. |

