Không chủ quan khi bà bầu bị tăng huyết áp
Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi, nhưng có thể xuất hiện ở phụ nữ mang thai. Nếu được phát hiện sớm, bệnh có thể được quản lý và kiểm soát tốt, giúp thai kỳ an toàn. Ngược lại, nếu chậm trễ, dễ dẫn đến tiền sản giật với nhiều biến chứng đe dọa tính mạng cả mẹ lẫn con.

BS.CKII Đỗ Thị Minh Nguyệt,Phó Trưởng Khoa Sản bệnh, Bệnh viện Phụ sản TP Cần Thơ, thăm hỏi thai phụ.
Với vai trò bệnh viện chuyên khoa sản tuyến cuối của vùng ĐBSCL, Bệnh viện Phụ sản TP Cần Thơ tiếp nhận và điều trị thành công nhiều trường hợp thai phụ bị tai biến sản khoa nghiêm trọng, đặc biệt là các ca tiền sản giật liên quan đến tăng huyết áp.
BS.CKII Đỗ Thị Minh Nguyệt, Phó Trưởng Khoa Sản bệnh, Bệnh viện Phụ sản TP Cần Thơ, cho biết, năm 2025, bệnh viện tiếp nhận hơn 1.200 trường hợp; riêng quý I năm 2026 đã ghi nhận khoảng 300 ca tăng huyết áp thai kỳ. Hiện tại, khoa đang điều trị tích cực cho 3 sản phụ bị tiền sản giật nặng.
Trong các trường hợp nguy kịch được điều trị hiệu quả, có sản phụ sinh năm 1998 mang thai tuần 38, con lần 4 (vết mổ cũ 3 lần). Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng huyết áp vọt lên 160/100 mmHg, đạm niệu cao, thiếu ối nặng và suy thai cấp. Ngay sau khi chẩn đoán, ê-kíp đã mổ cấp cứu kịp thời, đón bé trai 2,7kg khỏe mạnh và xác nhận tình trạng dây rốn thắt nút đúng như dự đoán. Một trường hợp khác là sản phụ không có tiền sử bệnh lý, nhưng ở tuần 32 bất ngờ lên cơn co giật (sản giật). Nhờ thuốc chống co giật, hạ áp tích cực và hồi sức tim thai, các bác sĩ đã mổ đón thai thành công, giúp cả mẹ và bé ổn định sức khỏe.
Bác sĩ Minh Nguyệt phân tích, tăng huyết áp thai kỳ có thể dẫn đến hệ lụy đa cơ quan. Đối với người mẹ, bệnh dễ diễn tiến thành sản giật, hội chứng HELLP, xuất huyết não, phù phổi cấp, nhau bong non, suy gan, suy thận. Về lâu dài, sản phụ còn đối mặt với nguy cơ tăng huyết áp mạn tính, bệnh tim mạch hoặc đái tháo đường. Đối với thai nhi, tình trạng này gây chậm tăng trưởng trong tử cung, thai lưu; trường hợp nặng phải chấm dứt thai kỳ sớm khiến trẻ bị non tháng, suy hô hấp.
Theo bác sĩ Minh Nguyệt, nguyên nhân chính là do những thay đổi sinh lý như đáp ứng viêm, giải phóng chất co mạch và rối loạn chức năng nội mô. Khi mang thai, các tế bào nuôi của nhau thai xâm nhập vào động mạch xoắn tử cung gây co mạch, dẫn đến thiếu máu nuôi thai và gây thiếu máu cục bộ tại các cơ quan đích của mẹ như mắt (mờ mắt), não (đau đầu), phổi (phù phổi), gan (vỡ bao gan), thận (suy thận).
Bên cạnh yếu tố di truyền và miễn dịch, các đối tượng nguy cơ cao bao gồm: người từng bị tiền sản giật lần mang thai trước; người có bệnh nền tăng huyết áp mạn, bệnh thận hoặc bệnh tự miễn (Lupus, kháng phospholipid); hoặc các trường hợp đa thai do hỗ trợ sinh sản (IVF). Nhóm nguy cơ trung bình gồm: phụ nữ mang thai con so, trên 35 tuổi, béo phì (BMI > 30), khoảng cách giữa 2 lần sinh trên 10 năm hoặc từng sinh con nhẹ cân.
Tại Bệnh viện Phụ sản TP Cần Thơ, tất cả bệnh lý thai kỳ nguy cơ cao đều được nhập viện theo dõi 24/24 tại đơn nguyên chăm sóc đặc biệt của Khoa Sản bệnh. Bệnh viện áp dụng phân tầng nguy cơ bằng mã màu (Đỏ: cấp cứu khẩn cấp; Vàng: trung bình; Xanh: nguy cơ thấp) trên cả hồ sơ giấy lẫn bệnh án điện tử để nhân viên y tế xử trí chính xác theo từng mức độ.
Bác sĩ Minh Nguyệt khuyến cáo, thai phụ cần cảnh giác với các dấu hiệu như phù nhiều, nhức đầu. Nếu huyết áp đo 2 lần trên 140/90 mmHg hoặc xét nghiệm đạm niệu trên 0,3g, cần được chẩn đoán tiền sản giật ngay. Y tế cơ sở có thể theo dõi ca nhẹ, nhưng nếu huyết áp đạt ngưỡng 160/110 mmHg kèm đau thượng vị, mờ mắt thì phải chuyển tuyến chuyên sâu ngay để dùng thuốc hạ áp và chống co giật đường truyền tĩnh mạch.
Thai phụ nên thực hiện tầm soát tiền sản giật ở quý 1 (tuần 11 đến 13 tuần 6 ngày) thông qua đo Doppler động mạch tử cung và xét nghiệm máu. Nếu nguy cơ cao, việc dùng Aspirin dự phòng đến tuần 36 có thể giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh tới 95%. Ở quý 2 và 3, bộ xét nghiệm sFlt-1/PlGF sẽ giúp dự báo nguy cơ trong vòng 1-4 tuần. Nếu theo dõi tại nhà, thai phụ cần kiểm soát cân nặng, ăn nhạt, theo dõi cử động thai (ít nhất 4 lần đạp/giờ).
Sau khi sinh, sản phụ vẫn cần theo dõi huyết áp tại bệnh viện trong 7 ngày đầu và tiếp tục tự kiểm soát tại nhà từ 6-12 tuần. Khoảng 90% trường hợp sẽ ổn định sau thời gian này, 10% còn lại có thể chuyển sang tăng huyết áp mạn tính cần điều trị lâu dài.
Bài, ảnh: THU SƯƠNG

