Kinh tế cơ bản ổn định nhưng vẫn đối mặt với nhiều rủi ro
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm 2015 tiếp tục tăng và đạt 6,5% so với cùng kì năm ngoái (tốc độ tăng trưởng GDP cùng kỳ năm 2014 là 6,0%). Tỉ lệ lạm phát thấp và niềm tin của người tiêu dùng cải thiện đã thúc đẩy tiêu dùng cá nhân. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như chi đầu tư phát triển của Chính phủ gia tăng. Tín dụng ngân hàng đã tăng trưởng trở lại. Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong ngành chế tạo tăng mạnh, nhưng tổng kim ngạch lại bị ảnh hưởng bởi mức độ sụt giảm xuất khẩu hàng hóa cơ bản và nông sản. Nhập khẩu máy móc, thiết bị để mở rộng sản xuất và hàng hoá trung gian phục vụ chế biến, chế tạo tăng mạnh phản ánh nhu cầu đầu tư gia tăng và tỉ lệ nhập khẩu cao trong hàng xuất khẩu.

Mặc dù có nhiều biến động trên thị trường tiền tệ quốc tế nhưng áp lực tỉ giá đồng Việt Nam đã được điều chỉnh thông qua chính sách phá giá từ từ. Áp lực tiền tệ bắt đầu tích tụ kể từ đầu năm 2015 do cả hai yếu tố thâm hụt thương mại gia tăng và các đồng tiền châu Á đều bị yếu. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) đã từng bước phá giá tiền đồng để giảm thiểu áp lực lên tỷ giá. Kể từ đầu năm 2015, NHNNVN đã ba lần điều chỉnh tỷ giá VND so với USD (tổng cộng là 3%) và cũng nới rộng biên độ giao dịch từ +/-1% lên +/-3%. Biện pháp này phần nào ổn định tỷ giá, thị trường ngoại tệ và duy trì năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh các đồng tiền mạnh khác mất giá nhiều so với đồng đô la Mỹ. Tuy nhiên trong bối cảnh tiền của các đối tác thương mại chính của Việt Nam tiếp tục bị mất giá so với đô la Mỹ thì tỷ giá tiền đồng vẫn còn chịu nhiều áp lực.
Mặc dù các cơ quan chức năng đã có nhiều nỗ lực, việc xử lý nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng vẫn còn nhiều thách thức. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống ngân hàng đã giảm xuống dưới 3% tổng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên có được kết quả này phần nào là do các khoản nợ xấu đã được chuyển sang Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) cũng như tổng tín dụng đã tăng mạnh trong thời gian gần đây. Quá trình xử lý nợ xấu vẫn đang diễn ra chậm chạp, cho đến nay chỉ có khoảng 7% tổng nợ xấu được xử lý. Công việc xử lý nợ xấu bị chậm là do VAMC không có đủ quyền sở hữu hợp pháp đối với khối tài sản này, thiếu một khung pháp lý thích hợp đối với việc giải quyết các trường hợp mất khả năng thanh toán, chuyển đổi quyền sở hữu, tịch biên tài sản thế chấp và bảo vệ nhân viên VAMC liên quan đến trách nhiệm cá nhân trong việc bán tài sản thấp hơn giá trị sổ sách.
Củng cố tài khoá vẫn là nhiệm vụ quan trọng nhằm kiểm soát rủi ro và tăng cường bền vững tài khoá. Trong 9 tháng, áp lực tài khoá vẫn rất nóng bỏng. Giá dầu giảm và giảm thuế suất thu nhập doanh nghiệp đã dẫn đến giảm thu ngân sách. Đồng thời, chi lại tăng nhanh hơn thu do phải tăng chi thường xuyên. Thâm hụt tài khoá (không kể các khoản chi ngoài ngân sách) ước khoảng 4,9% GDP. Khoản thâm hụt này chủ yếu tài trợ bằng nguồn vay trong nước. Nếu tiếp tục tình trạng mất cân đối tài khóa như hiện nay thì nợ công sẽ gia tăng nhanh chóng và tổng nợ công có thể sẽ chạm ngưỡng giới hạn 65% GDP trong trung hạn.
Về ngoại thương, tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa tiếp tục được duy trì. Tính chung 11 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 148,7 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Tuy giá trị xuất khẩu hàng hóa cơ bản và nông nghiệp giảm mạnh do giá xuất khẩu giảm, nhưng xuất khẩu các sản phẩm chế biến, chế tạo tăng mạnh, chủ yếu nhờ tăng xuất khẩu các loại sản phẩm như điện thoại di động, đồ điện tử, máy tính và linh kiện. Trong khi đó giá trị nhập khẩu, đặc biệt là máy móc, thiết bị cũng tăng mạnh do tăng cường hoạt động đầu tư và tỉ lệ nhập khẩu đầu vào rất cao trong nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 152,5 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại suy giảm đã làm cho thặng dư tài khoản vãng lai bị thu hẹp đáng kể trong năm 2015. Mặc dù thặng dư cán cân vãng lai và dự trữ ngoại tệ ở mức tương đối thấp, rủi ro cán cân thanh toán chung được giảm thiểu phần nào do luồng vốn FDI tăng mạnh và các khoản đầu tư vốn gián tiếp ít rủi ro.
Quá trình tái cơ cấu vẫn diễn ra một cách từ từ. Mặc dù tốc độ cổ phần hoá đã có chút cải thiện, nhưng nhiều trường hợp cổ phần hóa mới chỉ bán được một lượng cổ phần thiểu số nên tác động tới đầu tư và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chưa được như mong muốn. Việt Nam đã cải thiện đôi chút thứ hạng Môi trường Kinh doanh từ vị trí 93 (2015) lên 90 (2016) trong số 189 nền kinh tế. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn đang xếp dưới mức trung bình của các nước trong nhóm ASEAN-4, trong đó nổi lên các vấn đề chậm hoàn thiện khung thể chế, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh. Các bất cập thể hiện qua các tiêu chí thời gian nộp thuế, cơ chế bảo vệ nhà đầu tư thiểu số, cấp điện và thủ tục giải quyết phá sản. Năm 2015 Chính phủ cũng đạt tiến bộ về cải thiện môi trường kinh doanh với việc ban hành Nghị quyết 19/NQ-CP/2015 qua đó giảm thời gian nộp thuế xuống còn 121,5 giờ, và giảm đáng kể thời gian làm thủ tục xuất, nhập khẩu xuống còn lần lượt 13 và 14 ngày.
Nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều rủi ro
Triển vọng trung hạn của kinh tế Việt Nam được đánh giá là tích cực. Theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, GDP dự kiến sẽ tăng 6,55% trong năm 2015 nhờ cầu trong nước tiếp tục phục hồi do tiêu dùng cá nhân và đầu tư gia tăng. Dự kiến tăng trưởng sẽ tiếp tục duy trì trong trung hạn. Lạm phát sẽ giữ ở mức thấp do giá năng lượng và thực phẩm thế giới thấp, nhưng dự kiến sẽ tăng trở lại trong trung hạn. Cán cân thương mại dự kiến sẽ thu hẹp đáng kể trong năm nay do xuất khẩu tăng chậm hơn nhập khẩu nhằm đáp ứng các nhu cầu của hoạt động kinh tế và đầu tư gia tăng trong nước. Tuy nhiên, lượng kiều hối ổn định sẽ giúp tài khoản vãng lai tiếp tục thặng dư tuy ở mức thấp hơn nhiều so với các năm trước. Dòng vốn từ bên ngoài sẽ bổ sung thêm vào cán cân thanh toán nhờ FDI tiếp tục gia tăng nhờ triển vọng tích cực về kinh tế Việt Nam. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2015 thu hút 1.855 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 13,55 tỷ USD, tăng 30% về số dự án và tăng 1,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Tuy thâm hụt tài khoá dự kiến vẫn cao trong năm nay, nhưng kỳ vọng sẽ được điều chỉnh từ năm 2016 khi thực hiện các biện pháp thắt chặt nhằm ngăn ngừa tình trạng gia tăng nợ công.
Tuy triển vọng chung là tích cực, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều rủi ro bất lợi. Trong nước, tốc độ tái cơ cấu chậm chạp gây ra nhiều rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng trung hạn. Việc trì hoãn thực hiện thắt chặt tài khoá cũng có thể tác động lên mức độ bền vững nợ, nhất là khi đề cập đến các khoản nợ dự phòng liên quan tới ngân hàng các các doanh nghiệp nhà nước. Cùng với tăng trưởng tín dụng, các rủi ro trong ngành ngân hàng, kể cả nguy cơ tăng trưởng nóng, cũng tăng theo, và nếu không được quản lí cẩn trọng sẽ dẫn đến một đợt bất ổn định mới. Đối với môi trường bên ngoài, tăng trưởng chậm hơn dự kiến tại các thị trường chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Trung Quốc có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu và tăng trưởng chung của Việt Nam. Ngoài ra, dự kiến lãi suất chính sách tại Hoa Kỳ tăng lên cũng sẽ làm cho chênh lệch tỉ suất trái phiếu chính phủ tăng theo.
Điều này có thể ảnh hưởng tới kế hoạch phát hành trái phiếu quốc tế nhằm tài trợ cho các nhu cầu tài chính công của Việt Nam. Trong điều kiện môi trường kinh tế còn nhiều bất ổn như vậy, cần đảm bảo quản lí kinh tế vĩ mô tốt thì mới có thể tạo khoảng đệm chính sách và đối phó được với các cú sốc trong tương lai. Tiếp tục củng cố tài khoá, đẩy nhanh cải cách cơ cấu, áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt hơn, và tăng cường dự trữ ngoại tệ sẽ giúp giảm bớt các tác động bất lợi./.
Đ.H

