Bức ký họa không cũ
Truyện ngắn: HỒ KIÊN GIANG
Mỗi độ giữa năm, khi những cơn mưa rào đổ xuống, vết thương ở bả vai phải lại cựa mình khiến ông Sơn đau nhức. Nhưng với ông, nỗi đau xương thịt của người lính may mắn trở về không đau bằng những lúc nhớ người đồng đội vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa.
Chiều nay, ông Sơn ngồi trên chiếc vạt tre ở hàng ba, tay lật từng trang cuốn sổ ố vàng được bọc kỹ trong lớp ni lông cũ. Trên trang giấy bạc phếch, những nét vẽ bằng mực đen pha loãng hiện lên khuôn mặt xạm đen vì khói súng nhưng nụ cười rạng rỡ, đôi mắt sáng rực dưới vành nón tai bèo, dáng người dong dỏng vác trên vai hòm đạn, nhanh nhẹn vượt qua dòng kinh sình lầy. Đó là ông Sơn qua ký họa của Thành - người đồng đội chí cốt, người chiến sĩ trinh sát ngã xuống năm 1972. Bức ảnh ấy ông đã xem không biết bao nhiêu lần vậy mà vẫn bùi ngùi.
- Nội ơi, có thư gửi ông nè! - Minh, người cháu hiện công tác ở văn phòng ủy ban xã, vừa đi vô nhà vừa nói - Con thấy dấu bưu điện từ ngoài Bắc gửi vô đó nội.
Ông Sơn vội vàng xé ra. Một trang giấy học trò với vài dòng chữ nắn nót. Ông lướt vội, miệng mỉm cười mà mắt rưng rưng...
***

Năm 1972, Tiểu đội Trinh sát của ông Sơn được cấp trên bổ sung ba người. Trong đó có Thành - người con vùng đất Tổ Phú Thọ, vừa rời trường mỹ thuật tình nguyện nhập ngũ và đi B. Với đôi tay tài hoa cùng tâm hồn nghệ sĩ, Thành ký họa rất nhanh và sinh động về đời sống chiến đấu của quân - dân bằng mực Cửu Long kết hợp bút kim, bút sắt và màu nước pha loãng hay cục than củi, nhánh tre. Thành hiền lành và thông minh, ngoài vẽ nhanh và chính xác các ký hiệu, vật chuẩn, không ít lần đi thực địa đều phán đoán đúng diễn biến sau đó. Vậy là Sơn và Thành - một miền Tây và một miền Bắc, nhanh chóng trở thành “cặp bài trùng”. Nhiều trận đánh thắng lợi nhờ thông tin của hai chiến sĩ trinh sát cung cấp. Một đêm hành quân qua những rặng dừa nước ngã rạp sau mấy trận địch ném bom, Sơn hỏi:
- Trước khi vô trong này, Thành có ghệ chưa?
- Ghệ là gì?
- Là bồ, là người yêu đó.
- Nhà chỉ mình tớ con trai nên họ hàng đều mong học hành đỗ đạt, không lo nghĩ yêu đương. Sau này hết chiến tranh, cậu về quê tớ chơi, tớ kiếm người mai mối cho. Con gái quê tớ đẹp mặn mòi như phù sa sông Thao vậy.
- Trao đổi đi - Sơn vỗ vai đồng đội - Thành cưới vợ ở đây, còn tôi về quê Thành làm rể. Vậy là có dịp vô ra gặp nhau rồi.
Thành cười, nụ cười hiền hậu, hàm răng trắng bóng nổi bật trên khuôn mặt sạm đen vì nắng gió đồng bưng. Đêm đó, dưới ánh trăng suông giữa tháng, Thành vẽ nhanh chân dung Sơn ôm súng ngắm bầu trời đầy sao. Dưới bức vẽ, Thành ghi: “Gửi Sơn - Kỷ niệm bưng biền 1972”.
Cũng năm 1972, chừng nửa tháng sau, đơn vị của Sơn và Thành nhận lệnh bằng mọi giá nhổ đồn Kinh Cụt. Đây là cứ điểm chiến lược do địch dựng lên nhằm cắt đứt tuyến đường tiếp tế của ta vào vùng giải phóng. Trận đánh mở màn lúc rạng sáng, con kinh dẫn vào đồn vốn cạn giờ ngập tới lưng quần sau cơn mưa tầm tã. Do rành rẽ nhờ trinh sát, Sơn và Thành sẽ gài bộc phá đánh mở cửa, dọn đường cho bộ binh xung phong. Khi loạt pháo hiệu vừa bắn lên, “cặp bài trùng” cho nổ bộc phá rền vang, xé toạc lớp hàng rào kẽm gai sắc nhọn. Địch từ trong lô cốt điên cuồng bắn trả, đạn vạch đường đỏ rực, quét xối xả xuống trận địa.
- Bộc phá số 3 đã nổ. Cửa mở thông rồi. Xung phong! - Giọng của đại đội trưởng át tiếng bom đạn.
Sơn ôm chặt súng, vừa đưa mắt kiếm Thành, vừa định vượt cửa mở. Đúng lúc đó, một quả đạn cối phía sau đồn địch câu ngay sát vị trí của Thành. Qua lớp sình đất trộn lẫn nước bùng lên không trung, Sơn chết lặng khi thấy dáng Thành gục xuống cạnh mép rào kẽm gai. Không chút do dự, Sơn trườn tới kéo Thành lùi về sau, định chọn bờ Kinh Cụt tránh đạn địch. Ngực Thành bị dính mảnh đạn cối, máu tuôn ra ướt đẫm chiếc áo bộ đội.
- Thành… Thành ơi…
Sơn kêu lớn, hai tay cố bịt chặt vết thương trên ngực bạn nhưng máu vẫn không ngừng rỉ qua kẽ ngón tay. Dưới ánh sáng chưa tỏ lúc hừng đông, Thành từ từ mở mắt, nét nhìn bắt đầu bảng lảng, mờ đục. Dường như Thành không còn sức nói, chỉ dùng bàn tay run rẩy, đầy bùn đất chỉ chiếc túi da đeo bên hông. Ngay khoảnh khắc ấy, một loạt đạn đại liên từ chòi gác của địch quét qua làm Sơn cảm giác đau nhói ở bả vai. Lập tức, Sơn chồm qua đè lên người Thành để che chở đạn bom cho bạn. Trước khi ngất đi vì mất máu, Sơn nghe tiếng mừng thắng trận của đồng đội. Và cảm nhận hơi ấm của Thành từ từ lịm tắt.
***
Minh chăm chú nghe ông Sơn kể.
- Rồi ông Thành có sao không nội?
- Lúc nội tỉnh dậy trong trạm quân y tiền phương, bả vai chằng chịt băng gạc. Nội hỏi về Thành mà đồng đội đều lắc đầu. Anh em đã chôn cất Thành bên bờ Kinh Cụt. Họ gửi cho nội chiếc ba lô với túi da Thành thường đeo bên hông...
Giọng ông Sơn trầm xuống:
- Sau ngày đất nước thống nhất, việc đầu tiên nội làm là đi tàu ra Bắc để tìm về Cẩm Khê, Phú Thọ. Lúc nội bước vào gian nhà bên bờ sông Thao, mẹ của Thành đang lần mò bên cửa, đôi mắt đã lòa. Nội ngồi xuống, cầm đôi tay gầy guộc, nhăn nheo của bà mà nghẹn ngào: Mẹ ơi con là Sơn, đồng đội của Thành. Con thay Thành về với mẹ...
- Chắc bà cụ buồn và khóc nhiều lắm hả nội? - Minh hỏi.
- Không. Bà không khóc. Bà sờ mặt, sờ bờ vai đầy sẹo của nội, rồi nói: Con về là tốt. Chắc thằng Thành nhà mẹ ở trên cao cũng đang cười và mừng con được trở về...
Hơn ba mươi năm sau cho đến ngày mẹ Thành qua đời, mỗi năm ông Sơn đều thu vén ra Phú Thọ để chăm sóc, bầu bạn với bà vài tuần. Các bức tranh hoàn chỉnh của đồng đội, ông Sơn tặng bảo tàng để lưu giữ kỷ vật lịch sử, để mọi người đến tham quan cảm nhận người chiến sĩ tài hoa vẫn còn đây. Riêng ông chỉ giữ lại bức vẽ ông và những phác thảo dở dang như thấy đồng đội đang hiện diện trong nhà mình.
Ông Sơn đưa lá thư cho Minh:
- Thư này của em gái Thành báo tin sau nhiều năm tìm kiếm, hài cốt của Thành đã đưa về an táng ở nghĩa trang liệt sĩ quê nhà...
- Sao tới giờ mới tìm thấy hài cốt của ông Thành vậy nội?
Ông Sơn nhìn khoảng sân xâm xấp nước dưới những giọt mưa bong bóng:
- Chiến tranh ác liệt, biết bao người hy sinh. Xã nào cũng có nghĩa trang liệt sĩ, tìm kiếm được đâu phải ngày một, ngày hai...
Ông Sơn ngoảnh lại, chỉ bức ký họa treo trên vách nhà:
- Con thấy không? Thành vẽ nội trong đêm trăng, lúc bọn ông hai mươi mốt tuổi. Bây giờ ông đã tóc bạc, chân run, vai mỏi, mà nét vẽ của Thành vẫn còn nguyên như mới hôm qua.
Ngoài hiên, mưa dần tạnh, nhường chỗ cho những vệt nắng cuối ngày. Nhìn mắt Minh rưng rưng, ông Sơn nhấp ngụm trà, cảm nhận khí phách của thế hệ ông đang truyền sang đứa cháu này, ngấm sâu và trọn vẹn.

