05/07/2026
x
+
aa
-

“Lượm hột cơm rơi!” 

 

Bữa cơm của má dạy tôi nhiều lắm. Đó là bài học về nền nếp, gia giáo, đạo làm người và hơn hết là giá trị của tình thân.

 

Má dạy các cháu về sự vén khéo, đảm đang. Ảnh: DUY KHÔI

Có lần, tôi đọc được bài thơ “Cúi mình xuống lượm hột cơm rơi” của nhà thơ Nguyễn Thị Kim Tuyến, đoạn kết:

“Cha tôi

ông lão khăn rằn khòm lưng

dạy tôi bắt đầu từ một điều bé nhỏ

cúi xuống chân mình

lượm hột cơm rơi”

Quê tôi ở vùng rốn của Đồng Chó Ngáp. Đó là cách gọi ví von của người xưa về một vùng quê trũng phèn hoang vu, rộng lớn mà “chó muốn chạy qua phải ngáp đôi ba lần”. Xứ sở mà chỉ có bụi năng bộp, cây bình bát, dây choại… những thứ cây dại “trời sanh, trời nuôi” mới sống nổi. Tôi lớn lên trên vùng quê ấy, bằng đất phèn, nước mặn và bằng những bữa cơm nghèo má nấu. Bữa cơm mà dù tôi đã đi nửa cuộc đời vẫn nhớ như in và vẫn thèm khi nhắc.

Hồi đó, căn nhà lá của gia đình tôi nằm ngay ngã ba sông Cái và rạch Bà Từ. Gió từ sông thổi thốc vào căn nhà nghèo trống không nhưng tươm tất, kỹ càng. Chái bếp là một thế giới rất riêng của má và là ký ức không thể quên của anh em tôi. Ở đó, cái tủ bếp luôn có thố cơm mẻ, ơ cá kho, vài củ hành, trái ớt… Cự củi được xếp ngay ngắn, gọn gàng, bếp củi sạch trơn, ấm cúng. Cạnh tủ bếp là bộ ván ngựa nhỏ, trên có giăng cái võng đươn bằng dây bình bát. Ở “thiên đường” đó, tôi đã được má ru ngủ bằng điệu nói thơ Bạc Liêu, bằng câu vọng cổ mượt mà, bằng tiếng ru hời “ầu ơ… đèn Sài Gòn, ngọn xanh ngọn đỏ…”.

Má dạy các chị tôi rằng, gian bếp là cách để người ta nhìn vào và đánh giá tính vén khéo của đàn bà, con gái trong nhà. Sự ngăn nắp, sạch sẽ trong từng nồi cơm, ơ cá… cho thấy nhà đó nền nếp ra sao, đầm ấm cỡ nào. Được má dạy, các chị tôi vén khéo từ nhỏ, ai cũng nấu ăn ngon, biết phụ má dọn dẹp bếp núc, nhà cửa.

Má, người thầy đầu tiên của những đứa con thơ! Ảnh: DUY KHÔI

Với má tôi, gian bếp đỏ lửa sớm chiều, đầm ấm hai bữa cơm là cách để nhận diện một gia đình hạnh phúc. Thế nên, có lần qua nhà chị, thấy căn bếp nguội lạnh, ai cũng dán mắt vào điện thoại chẳng nhìn nhau, về nhà, má khóc...

Nhớ lại tuổi thơ mình, tôi nhớ hoài những bữa cơm má nấu. Hồi đó, má trồng vườn rau bên hông nhà, cạnh sàn lãn, rồi cánh rừng phía sau nhà đầy rau dại. Cứ vậy, má chu toàn từng bữa cơm cho cả nhà. Có bữa cá kho, có bữa mắm sống, mắm chưng, hủn hỉn kho tiêu, có bữa cơm chan nước dừa, nước lạnh… Vậy mà sao ngon quá chừng! Bữa nào nhà không có tiền mua đồ ăn, má bới cơm chan nước lạnh cho tôi ăn với miếng đường mía, mà nói: “Ráng ăn đỡ, bữa nào có tiền, ba má mua thịt cho con ăn!”. Rồi những bữa cơm có thịt, 5 anh em tôi ăn ngon lành, ba má thì cứ rau chấm nước kho... Ba hay nói: “Tụi con ăn đi, ba má ăn riết ngán rồi”. Quá nửa đời người, tôi mới nhận ra đó là “lời nói dối vĩ đại nhất” của ba.

Tôi học làm người từ những bữa cơm bên ba má. Ba dạy tôi, ăn cá phải giẻ từ dưới lên trên, không được lặt đầu ăn trước. Miếng ngon phải biết nhường. Trước khi bới cơm, phải xới cho tơi, lấy giề cơm cháy ăn trước, cơm tẻ ăn sau. Cơm chan canh thì ăn nhẹ nhàng, không húp thành tiếng, không gõ đũa vào chén. Ít nói chuyện trong bữa ăn, không nói chuyện không vui, không nói lời không phải phép, “trời đánh còn tránh bữa ăn”. Má dạy anh em tôi biết nhường nhau trong bữa ăn, anh lớn nhường em nhỏ, phải biết hiếu ăn, thảo ăn, ăn sao có nghĩa, có nghì...

Ba tôi dạy ăn cơm phải và sạch cơm trong chén, ăn phải kỹ, không để rơi rớt hột nào. Ba hay nhắc: “Cúi xuống lượm cơm đổ đi con”; má thì dặn: “Làm đổ cơm có tội”, “Cơm còn không có mà ăn”… Đó là bài học biết quý trọng hột cơm, con cá, biết giữ gìn nền nếp gia phong, tính tình kỹ lưỡng, không phí phạm dù chỉ là hột cơm nhỏ nhoi. Tôi nhớ hết đời mình: “Cúi xuống lượm hột cơm rơi”!

Và tôi còn nhớ cả những mâm cơm lễ nghĩa. Ngày giỗ, ngày Tết, ba má tôi kỹ càng, chăm chút mâm cúng trong nhà. Ba má cúng ông bà, tổ tiên, cúng đất đai, sông nước, cúng anh hùng chiến sĩ trận vong, cung thỉnh về chung hưởng bữa cơm nhà mình. Ba má thắp nhang rồi kêu anh em tôi, mỗi người ra thắp cây nhang, rót ly trà, chung rượu cho bữa cúng cơm thêm trọn vẹn. Với ba má tôi, đó là bữa cơm biết ơn nguồn cội. Còn với chúng tôi, đó là bữa cơm về đạo làm người. Sống có trước có sau, có trên có dưới, ơn ai một chút trả hoài chưa thôi…

Ở tuổi gần 80, má tôi bây giờ đã già, ba tôi đi đứng cũng không còn mạnh dạn nữa. Nhưng hễ sáng ra, khi cả nhà còn chưa thức, ba tôi đã cặm cụi lau chùi bàn thờ gia tiên, thắp nhang cho ông bà. Má thì lụi cụi dưới bếp, lau chùi, quét dọn, sửa lại cự củi cho bằng, treo cái võng lên trên vách lá... Giềng mối gia phong, ba má tôi bền bỉ giữ gìn để chúng tôi - những đứa con có chỗ an trú! Con cháu về nhà, ba má tôi vui lắm. Bữa cơm 3 thế hệ đầm ấm tiếng cười...

Mấy tháng nay má bệnh, phải lên thành phố ở với tôi. Mới được mấy bữa, má lại than nhớ nhà, nhớ chái bếp, nhớ nồi cơm củi nấu bằng gạo lúa mùa. “Má lo cho ba bây!”. Chiều nay, má ngồi ăn cơm với con cháu giữa phố thị. Đôi tay run run má và từng đũa cơm khó nhọc. Có hột cơm rớt xuống, má cúi người lượm lên. Nhìn má, tự dưng tôi muốn khóc!

Bút ký: ĐĂNG HUỲNH

Top