Chùa Hội Linh - Nếp thiền giữa miền đất cổ
Tọa lạc tại số 314/36 đường Cách mạng Tháng Tám, phường Bình Thủy, TP Cần Thơ, Chùa Hội Linh (ảnh), còn gọi là Hội Linh Cổ Tự, đã trải qua hơn một thế kỷ tồn tại. Ngôi chùa đồng thời còn lưu giữ nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật. Đặc biệt, Chùa Hội Linh từng là cơ sở cách mạng, ghi dấu những đóng góp và sự hy sinh của các thế hệ tăng ni, phật tử nơi đây.

Từ Hội Long Tự đến Hội Linh Cổ Tự
Chùa Hội Linh được khởi lập vào ngày Rằm tháng 2 năm Đinh Mùi (1907), theo dòng Thiền Lâm Tế. Gia đình phật tử là ông Phạm Văn Bường (pháp danh Thông Lý) và bà Nguyễn Thị Tám (pháp danh Thông Ngọc) đã cúng dường đất để Hòa thượng Thích Khánh Hưng, thế danh Quý Thanh Hương, xây dựng.
Buổi đầu, chùa được dựng khá đơn sơ với cột cây, vách và mái lợp lá, cửa chùa quay về hướng sông Hậu, mang tên Hội Long Tự, còn được người dân gọi là chùa Xẻo Cạn, do nằm ở ngọn một con rạch nhỏ. Từ một ngôi chùa bình dị giữa vùng đất mới khai phá, Hội Long Tự từng bước hình thành đời sống tu học và trở thành không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương.
Hòa thượng Thích Khánh Hưng trụ trì từ ngày khai sơn đến khi viên tịch vào mùng 5 tháng 3 năm Giáp Dần (1914). Sau đó, Hòa thượng Thích Hoằng Đạo, thế danh Võ Văn Nhuận, kế thế trụ trì cho đến khi viên tịch ngày mùng 7 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1922). Dưới thời Hòa thượng Thích Hoằng Đạo, chùa có sự thay đổi quan trọng về diện mạo. Có 2 bảng gỗ khắc công đức của phật tử phát tâm xây dựng lại chùa bằng vật liệu kiên cố, tường gạch và mái ngói. Cũng từ đây, tên chùa được đổi thành Hội Linh Cổ Tự.
Sau đó, Hòa thượng Thích Trí Đăng kế thế trụ trì đến năm 1944. Từ năm 1944, Thượng tọa Thích Pháp Thân, thế danh Dương Văn Đề, đảm nhiệm trụ trì đến ngày 18 tháng 8 năm 1970, không chỉ duy trì đời sống tu học mà còn có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp kháng chiến, đến khi viên tịch. Hòa thượng Thích Pháp Hiện kế nhiệm trong 2 năm 1970-1972.
Năm 1972, Thượng tọa Thích Chơn Đức, thế danh Phan Văn Bảy, nguyên quán Long Tuyền, Bình Thủy, Cần Thơ, kế thế trụ trì (đến năm 1998 được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong Hòa thượng). Cuối năm 2005, do tuổi cao sức yếu, Hòa thượng Chơn Đức giao việc điều hành phật sự cho Thượng tọa Thích Thiện Pháp. Sau khi Hòa thượng Chơn Đức viên tịch năm 2011, Thượng tọa Thích Thiện Pháp chính thức đảm nhiệm cương vị trụ trì (năm 2017 được tấn phong Hòa thượng).
Lịch sử trụ trì của chùa Hội Linh vì thế không chỉ là sự tiếp nối của các thế hệ thiền môn, mà còn phản ánh quá trình hình thành và phát triển của một cơ sở Phật giáo gắn bó mật thiết với cộng đồng cư dân Bình Thủy. Qua mỗi thế hệ, ngôi chùa vừa duy trì nếp tu học, vừa thích ứng với những biến đổi của vùng đất và xã hội xung quanh.
Không gian kiến trúc và nghệ thuật tạo tác
Chùa Hội Linh hiện có diện tích khoảng 6.500m², gồm sân chùa, mộ tháp, nhà khách, chính điện, nhà Tổ và một số hạng mục khác. Từ mặt đường vào chùa khoảng 200m, không gian dần trở nên tĩnh lặng với nhiều cây xanh và hoa kiểng. Nổi bật ở phía trước là cổng tam quan. Cổng chính có quy mô lớn hơn hai cổng phụ, phần mái gồm hai tầng, uốn cong theo hình thuyền và lợp ngói màu xanh. Trên đỉnh mái là hình tượng đôi rồng chầu quả châu; giữa hai tầng mái là tên ngôi cổ tự. Hai hàng cột của cổng chính mang đôi câu đối thể hiện quan niệm về không gian thiêng và sự tự tại của người tu hành.
Hai cổng phụ tiếp tục tạo nên hệ thống trang trí mang tính biểu tượng. Cổng bên phải đề: Thiền môn nghiêm tịnh, nhấn mạnh sự trang nghiêm và thanh tịnh của cửa thiền. Cổng bên trái đề: Hải chúng an hòa, thể hiện ước nguyện chúng sinh được bình an, hòa hợp. Các câu đối tại hai cổng cũng hướng đến những tư tưởng căn bản của Phật giáo như cứu độ chúng sinh, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, đồng thời gửi gắm ước vọng quốc thái dân an, phong điều vũ thuận.
Qua khỏi cổng chính là hồ sen hình bán nguyệt, giữa hồ tôn trí tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cao gần 3m. Phía sau hồ là khu vườn cây cảnh, xen giữa các chậu kiểng có miếu thờ Ngũ Hành và Thổ Thần. Cách bố trí này cho thấy sự đan xen giữa hệ thống biểu tượng Phật giáo với những yếu tố tín ngưỡng dân gian vốn đã hiện diện lâu đời trong đời sống tinh thần của cư dân Nam Bộ.
Phía trước chánh điện là 3 gian cổ lầu, ở giữa tôn trí Đức Phật A Di Đà, hai bên là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát. Hệ thống mái được tạo hình với nhiều chi tiết trang trí, trong đó có hình búp sen, dây lá và bầu rượu. Những mô-típ này cùng với các đề tài mai, lan, cúc, trúc, sen, rồng, phượng, chim muông được sử dụng trong trang trí đã góp phần tạo nên diện mạo giàu tính truyền thống cho công trình.
Điều đáng chú ý là mặc dù sử dụng những vật liệu xây dựng tương đối hiện đại, chùa vẫn bảo lưu nhiều yếu tố kiến trúc truyền thống Việt Nam. Hệ thống vì kèo, cột gỗ, chân đế đá và các kiểu thức trang trí truyền thống được kết hợp trong một tổng thể kiến trúc đã có sự điều chỉnh theo điều kiện xây dựng mới. Chính sự kết hợp này tạo nên một diện mạo vừa mang tính truyền thống, vừa phản ánh quá trình biến đổi của kiến trúc Phật giáo Nam Bộ.
Chính điện rộng khoảng 288m², nóc cao hơn 9m và được chia thành ba gian thờ. Các bao lam gỗ được chạm khắc công phu với những đề tài hoa lá, chim muông và nhiều ô hộc trang trí. Phía sau chính điện là gian thờ Hậu Tổ. Đáng chú ý, chùa có đặt nơi tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, các anh hùng liệt sĩ. Như vậy, không gian chùa Hội Linh không đơn thuần được tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thờ phụng. Qua cách bố trí, ngôi chùa hình thành một chỉnh thể vừa phục vụ đời sống tu học, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của cộng đồng.
Dấu ấn văn hóa và lịch sử
Một trong những giá trị nổi bật của chùa Hội Linh nằm ở nghệ thuật tạo tác và trang trí. Bên cạnh những pho tượng quen thuộc như A Di Đà, Thích Ca, chùa còn lưu giữ những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đáng chú ý như tượng Phật Chuẩn Đề cưỡi khổng tước, tượng Địa Tạng cưỡi lân, tượng Di Lặc và tượng Giám Trai. Những tác phẩm này góp phần làm phong phú thêm diện mạo nghệ thuật Phật giáo tại Nam Bộ.
Bên cạnh đó, từ năm 1941, chùa Hội Linh là cơ sở bí mật của cách mạng. Các vị hòa thượng, tăng ni và phật tử đã che chở, nuôi chứa cán bộ, lãnh đạo cách mạng. Năm 1946, để bảo vệ cơ sở cách mạng, Hòa thượng Thích Pháp Thân đã quyết định cho đốt một phần chính điện. Sau Hiệp định Genève năm 1954, chùa tiếp tục là cơ sở cách mạng tin cậy. Hòa thượng Thích Pháp Thân cùng tăng ni và phật tử từng bị địch bắt, giam giữ và điều tra. Trong thời kỳ chống Mỹ, chùa còn công khai tiếp đón và giúp đỡ nhiều gia đình đến thăm thân nhân là cán bộ, chiến sĩ cách mạng bị giam tại Trại tù binh Lộ Tẻ. Những hoạt động này cho thấy vai trò của chùa không chỉ giới hạn trong đời sống tôn giáo mà còn mở rộng sang đời sống xã hội và lịch sử của cộng đồng.
Những đóng góp ấy đã được Nhà nước ghi nhận. Hòa thượng Thích Pháp Thân, thế danh Dương Văn Đề, được công nhận là Liệt sĩ; chùa Hội Linh được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất cùng nhiều giấy khen, bằng khen và huân chương, huy chương dành cho các vị trụ trì và phật tử có đóng góp cho sự nghiệp cách mạng.
Với những giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, Chùa Hội Linh được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 21-6-1993.
Nếp thiền giữa miền đất cổ
Hơn một thế kỷ tồn tại, chùa Hội Linh đã trải qua nhiều lần thay đổi về diện mạo, nhiều thế hệ trụ trì và những sự kiện lịch sử vùng đất Cần Thơ. Từ một ngôi chùa nhỏ mang tên Hội Long Tự bên dòng rạch Xẻo Cạn, Hội Linh từng bước trở thành một cơ sở Phật giáo có vị trí trong đời sống văn hóa - tinh thần của cộng đồng.
Điều làm nên giá trị của chùa Hội Linh không chỉ là tuổi đời, kiến trúc hay những pho tượng có giá trị nghệ thuật. Quan trọng hơn, ngôi chùa là nơi lưu giữ sự tiếp nối của một nếp sống thiền môn, nơi đời sống tu hành gắn với cộng đồng và những giá trị đạo đức, tinh thần được truyền qua nhiều thế hệ. Trong những năm tháng chiến tranh, nếp sống ấy còn được thể hiện qua tinh thần yêu nước và sự dấn thân của các vị tăng ni, phật tử.
Chính sự đan xen ấy tạo nên diện mạo riêng của Chùa Hội Linh - một nếp thiền được gìn giữ giữa miền đất cổ của Cần Thơ.
Bài, ảnh: Trần Phỏng Diều
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Quốc Lương (2009), Chùa Hội Linh - Một di tích lịch sử văn hóa Quốc gia, Báo Cần Thơ, ngày 13 tháng 12.
2. Nguyễn Quảng Tuân - Huỳnh Lứa - Trần Hồng Liên (1994), Những ngôi chùa ở Nam Bộ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ - Ban Quản lý di tích thành phố (2019), Di tích lịch sử văn hóa thành phố Cần Thơ.

