19/10/2026
x
+
aa
-

Nhiều thách thức trong xuất khẩu gạo 

Trong 9 tháng năm 2026, thị trường gạo thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp do tác động của biến động cung - cầu, thời tiết bất lợi, căng thẳng địa chính trị làm gia tăng cạnh tranh và gây sức ép lên giá gạo quốc tế, từ đó tác động rất lớn đến xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Khó khăn trong xuất khẩu gạo

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong 9 tháng năm 2026, các nước nhập khẩu tiếp tục ưu tiên bảo đảm an ninh lương thực và kiểm soát giá trong nước, đồng thời điều chỉnh chính sách nhập khẩu phù hợp với tình hình cung - cầu. Trong khi đó, các nước xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Pakistan và Malaysia tiếp tục cạnh tranh về giá, chất lượng và thị trường. Trong bối cảnh trên, hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam chịu tác động từ cạnh tranh gia tăng, biến động giá, chi phí logistics và những thay đổi trong chính sách nhập khẩu của các thị trường chủ lực. Doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn trong việc cân đối nguồn hàng và chủ động kế hoạch xuất khẩu.


Thương lái thu mua lúa tại xã Vị Thanh 1, TP Cần Thơ, để xay xát gạo xuất khẩu. Ảnh: H.T

Theo số liệu tổng hợp, lũy kế xuất khẩu gạo 9 tháng năm 2026 đạt 6,363 triệu tấn, trị giá 3,057 tỉ USD, giá xuất khẩu bình quân đạt 480,41 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2025, giảm 6,72% về lượng, về trị giá giảm 12,26% và giá bình quân giảm 6,72% (giảm 30,34 USD/tấn). Philippines tiếp tục là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường này có nhiều điều chỉnh về chính sách nhập khẩu gạo. Đáng chú ý, việc tạm ngừng cấp giấy phép nhập khẩu về kiểm dịch động thực vật đối với gạo nhập khẩu trong giai đoạn cao điểm thu hoạch trong nước dự kiến sẽ ảnh hưởng đến tiến độ xuất khẩu của Việt Nam trong những tháng cuối năm. Trong khi đó, xuất khẩu sang Trung Quốc và một số thị trường châu Phi có sự tăng trưởng, góp phần mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhưng chưa bù đắp hoàn toàn sự sụt giảm tại Philippines.

Cơ cấu chủng loại gạo xuất khẩu tiếp tục chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng. Một số chủng loại gạo chất lượng cao, gạo thơm, gạo Nhật, Jasmine và nếp tăng so với cùng kỳ; Đài thơm, OM 18 tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu, đạt khoảng 47,65%, cho thấy đây vẫn là nhóm sản phẩm chủ lực của gạo Việt Nam.

Trong khi đó, giá lúa, gạo và phụ phẩm bình quân 9 tháng đầu năm 2026 biến động khác nhau giữa các mặt hàng. Nhìn chung, giá lúa và phần lớn các mặt hàng gạo, phụ phẩm tăng so với cùng kỳ, trong khi một số loại gạo nguyên liệu và gạo thành phẩm xuất khẩu giảm. Từ giữa tháng 8-2026, giá lúa, gạo trong nước và giá xuất khẩu có xu hướng giảm, gây áp lực lên hoạt động thu mua, chế biến và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, giá lúa tươi hạt dài tại ruộng bình quân 6.079 đồng/kg, tăng 37 đồng/kg; lúa thường 5.757 đồng/kg, tăng 262 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Đối với gạo lứt loại 1 bình quân 9.206 đồng/kg, tăng 133 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2025; gạo xát trắng loại 1 có giá 10.513 đồng/kg, giảm 282 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước...

Nỗ lực trong những tháng cuối năm

Theo kế hoạch, trong 3 tháng cuối năm, Việt Nam sẽ xuất khẩu thêm 1,14-1,34 triệu tấn để đạt kế hoạch xuất khẩu gạo cả năm từ 7,5-7,7 triệu tấn. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trong những tháng cuối năm, hoạt động xuất khẩu gạo tiếp tục chịu tác động của biến động thị trường thế giới, điều chỉnh chính sách nhập khẩu của các nước và cạnh tranh gia tăng giữa các nước xuất khẩu. Do đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, duy trì thị trường hiện có, đồng thời mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu gạo.

Thị trường xuất khẩu ngày càng chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững, bên cạnh yêu cầu về giá và sự ổn định của nguồn cung. Định hướng xuất khẩu năm 2026 và các năm tiếp theo tiếp tục ưu tiên gạo chất lượng cao, gạo thơm; đây là những phân khúc có dư địa phát triển, góp phần nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam.

Các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua lúa trên địa bàn TP Cần Thơ, để xuất khẩu hoàn thành kế hoạch năm.

Đối với gạo phát thải thấp, yêu cầu của thị trường không chỉ dừng ở việc giảm phát thải mà còn đòi hỏi khả năng chứng minh quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và dữ liệu canh tác. Để đáp ứng ổn định yêu cầu của thị trường, cần chuyển các mô hình sản xuất riêng lẻ sang xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn, sản xuất đồng nhất, gắn với liên kết tiêu thụ và cơ chế xác nhận, truy xuất rõ ràng. Qua đó, hình thành nguồn cung ổn định, sản phẩm có chất lượng đồng đều và giá trị gia tăng cao.

Ông Nguyễn Văn Thích, Giám đốc Hợp tác xã (HTX) Tân Long, xã Vĩnh Tường, TP Cần Thơ, cho biết: HTX chuyên canh lúa chất lượng cao với diện tích hơn 500ha với các giống như ST 24, ST 25, OM 18, OM 5451 và phát triển mô hình sản xuất lúa an toàn, lúa hữu cơ. HTX định hướng xã viên trong việc đổi mới tư duy sản xuất nông nghiệp, xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo chất lượng cao, thân thiện với môi trường. Bên cạnh trồng các giống lúa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, HTX còn liên kết với bên ngoài và bao tiêu sản phẩm lúa hữu cơ, lúa chất lượng cao cho nông dân bên ngoài, diện tích hàng tăm héc-ta để phục vụ tiêu dùng nội địa và cung cấp lượng lớn lúa gạo cho xuất khẩu.

Theo bà Nguyễn Thị Giang, Phó Gám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ, từ đầu năm đến nay, lúa gạo là mặt hàng có đầu ra ổn định nhất, đóng góp lớn cho tăng trưởng của ngành, hoạt động thu mua phục vụ chế biến và xuất khẩu duy trì ở mức khá. Thành phố tiếp tục thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, nhất là trong các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Việc phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất theo tiêu chuẩn và truy xuất nguồn gốc tạo điều kiện nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng tiêu thụ sản phẩm, qua đó góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và bảo đảm đầu ra cho nông dân.

Bài, ảnh: HOÀI THANH

Other news

Nhiều thách thức trong xuất khẩu gạo 
Trong 9 tháng năm 2026, thị trường gạo thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp do tác động của biến động cung - cầu, thời tiết bất lợi, căng thẳng địa chính trị làm gia tăng cạnh tranh và gây sức ép lên giá gạo quốc tế, từ đó tác động rất lớn đến xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Lấy khả năng cấp nước quyết định lịch thời vụ, diện tích gieo trồng 
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cảnh báo: Mùa khô 2026-2027, lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong về ĐBSCL sẽ ở mức rất thấp, tương đương 2 đợt hạn mặn lịch sử năm 2015-2016 và 2019-2020.
Giữ đà thắng lợi từ canh tác bền vững 
ĐBSCL khép lại các vụ lúa năm 2026 với năng suất và lợi nhuận cao nhờ chuyển đổi thời vụ hợp lý. Chuẩn bị cho vụ đông xuân 2026-2027, nông dân cần tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn từ Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đảm bảo an toàn, giữ đà thắng lợi.
Đồng bằng sông Cửu Long: Tập trung xây dựng kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn mùa khô 2026-2027 
(CT) - Theo Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, hiện trạng thái El Nino có cường độ rất mạnh với xác suất cao xảy ra từ nay đến tháng 12-2026, sau đó khả năng giảm dần và duy trì đến đầu mùa hè năm 2027.
Cơ cấu giống lúa thích ứng thị trường và thời cuộc 
Các vụ lúa trong năm, các địa phương vùng ĐBSCL thường định hướng cơ cấu giống lúa gieo trồng phù hợp theo từng tiểu vùng sinh thái và thị trường xuất khẩu. Bà Phạm Thị Minh Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP Cần Thơ, nhận định:
Top