Những mùa hoa lỡ
Mặt sông phía chân trời thẫm lại mênh mang màu của con nước lúc hoàng hôn. Ráng chiều đổ dài loang về phía đồng xa để rơi rớt vài vệt sáng cuối cùng. Đã năm năm. Không nhớ bao nhiêu lần cô trở lại nơi này. Tất cả vẫn mang vẻ đẹp hoang sơ đến nao lòng, vẫn yên bình sau những cơn bão lũ. Một con đò lững thững xuôi về hạ du, phía mái nhà đang tỏa lên vầng khói lam chiều nhẹ hẫng. Nếu không có con đò trôi phía bên kia, không có mái nhà khói lên ấm áp ở mom sông này thì nơi đây quạnh vắng đến vô cùng. Mặt sông không chút sóng gợn mà lòng cô chênh chao, mơ hồ nghe như tiếng chân người tự xa xăm vọng về.

Năm năm không dài nhưng đủ để bến sông này trở thành nơi neo đậu của những ký ức, và cả gương mặt một người giờ đây chỉ còn thoáng qua trong những giấc mơ. Ngày đó, Đăng và cô học cùng trường. Đăng quê miền trung du, thông minh và trầm tính. Mỗi ngày anh đạp xe từ ký túc xá đến trường, lặng lẽ và cần mẫn. Cô trót thương vóc dáng gầy gầy ấy, thương ánh mắt đăm chiêu sau lớp kính dày, thương cả những ngày mưa anh dúi vào tay cô một gói xôi còn nóng.
Ra trường, Đăng không ở lại thành phố tìm việc, mà chọn về quê. “Anh về, dựng một thư viện nho nhỏ cho mấy đứa trẻ trong làng. Tội nghiệp lắm! Tụi nó mấy khi được cầm quyển truyện”. Lam không cản anh. Cô cũng bước vào môi trường mới như một người trưởng thành xa khỏi giấc mơ tuổi trẻ. Những tin nhắn cho Đăng thưa dần. Cho đến mùa hè năm đó, những hoài bão, khát vọng khi còn ngồi ở ghế nhà trường bỗng chốc xám xịt trước những khắc nghiệt của guồng quay công việc, cô lặng lẽ khoác ba lô lên xe về quê tìm Đăng.
Căn nhà gỗ nằm bên triền sông. Cách đó không xa là con đường mòn dẫn đến ngôi nhà nhỏ được dựng bằng những tấm gỗ ván, mái lợp lá, bên trong vài kệ sách đầy nhóc những cuốn truyện tranh, truyện cổ tích, trinh thám… Vài đứa trẻ đang chạy đuổi nhau quanh chiếc thuyền thúng, tiếng chúng len vào mùi đất, mùi hoa dại từ phía đồng xa thoảng tới nồng nàn. Má Đăng mới ngoài bảy mươi, lưng đã cong vòng hình dấu hỏi, bà nhìn Lam bằng ánh mắt hiền lành, thân thương. “Vô nhà đi con! Ở đây chơi lâu lâu một chút chớ thằng Đăng nhắc con hoài…”. Không đợi má nói hết câu, Đăng cười xòa, dắt cô ra vườn sau chỉ vạt cúc trắng, thì thầm “Vườn cúc này là của em! Anh trồng cho em!”.
Một chiều, cũng trên triền sông này, cô tựa vào vai Đăng, nghe gió từ bên kia sông thoảng về mùi bắp non còn đọng sữa. “Em có thể về đây không?” - Đăng hỏi. Lam khẽ lắc đầu. Cô biết, chỉ cần nghe ý định này, ba mẹ cô sẽ dập tắt ngay.
Ngày trở lại thành phố, Đăng chở cô trên chiếc xe máy cũ, lên đến quốc lộ đón xe, anh đứng nhìn theo cho đến khi bóng cô mờ dần sau lớp khói bụi mù. Mùa hè năm đó, Đăng tình nguyện tham gia cứu trợ đồng bào vùng lũ. Anh cùng hai người bạn gom sách vở, áo quần chất lên một chuyến xe. Trên đường trở về, chiếc xe mất thắng lao xuống đèo. Đăng đi mãi không về. Tin nhắn cuối cùng anh gửi cho cô chỉ vỏn vẹn một dòng “Đến mùa cúc trắng, em nhớ về nhé!”.
Mùa cúc trắng năm đó cô về quê Đăng. Lần này chỉ một mình cô ngồi bên triền sông nghe sóng ì oạp vỗ bờ. Vẫn những rớ chồ nằm phơi mình giữa trời chờ nước lên. Vẫn con đường nhỏ lặng phắc giữa đồng chiều. Vẫn những mùa hoa dại trải dài tít tắp đến vô cùng. Xao xác giữa một triền đồi lộng gió. Mọi năm giờ này lũ chim đồng đã rộn rã kéo về thành đàn, lượn qua đồi, qua sông khi cánh đồng bắt đầu vàng hạt. Đăng nói, lũ chim đồng bay về là người làng không lo mất mùa, đói kém, lũ lụt cũng thôi không về nữa.
Mặt trời vừa tắt đi chút ánh sáng cuối cùng, cô chợt nghe tiếng con nít ríu rít sau lưng. Một bé gái tóc cột nhổng đuôi gà chạy đến ríu rít ấn vào tay Lam bó hoa cúc trắng. “Cô có phải là cô Lam không?”. Không đợi cô trả lời, cô bé đã chạy biến đi cùng đám bạn, chạy một đoạn còn ngoái lại cười toe “Cậu Đăng nói cô thích hoa cúc lắm!”.
Cô nghe tim mình thắt lại. Lững thững men theo con đường mòn hoa cỏ, cô vào làng. Ngôi nhà của Đăng kia rồi! Không dưng cô bỗng thấy hồi hộp như lần đầu tiên đặt chân đến đó. Ngôi nhà vẫn vậy, vẫn nhỏ nhoi nép sau những bụi chuối um tùm, hai hàng chè tàu được cắt tỉa cẩn thận từ ngõ vào đến sân. Bên ngạch cửa, một chiếc bóng vừa lướt qua. Lam sững lại. Từ trong nhà, một thiếu phụ mảnh gầy lẹ làng bước ra mời Lam vào nhà rồi tự giới thiệu “Em là Huê, em gái anh Đăng. Mẹ em mất đã ba năm rồi, em đưa chồng con về ở đây. Em muốn giữ lại căn nhà, giữ mảnh vườn, giữ cái thư viện cho mấy đưa nhỏ, giữ cả vườn hoa cúc trắng… cho chị”.
Ngoài sông gió phần phật thổi vào mang theo hơi nước mát lạnh. Cô cúi đầu, nước mắt lặng lẽ ứa ra. Đêm ấy cô ngủ lại trên chiếc giường gỗ cũ nhưng không sao chợp mắt. Trên vách, tấm ảnh Đăng cười rạng rỡ giữa những đứa trẻ, qua lớp bụi thời gian. Sáng sớm cô đã thức dậy vì tiếng gà gáy. Bên khung cửa, vài tia nắng nhè nhẹ len vào, thoảng mùi khói bếp. Cô nằm yên nghe tiếng chim ríu rít trên ngọn thầu đâu trước nhà, tiếng chổi tre sàn sạt quét lá. Huê đã thức từ bao giờ, đang cắm cúi quét sân. Cô khoác chiếc áo len mỏng, ra hiên. Huê đang vun đống lá châm lửa đốt, bên ảng nước, một cô bé đang ngồi trước cối đá xay bột, tiếng ù ù quay trong buổi sớm nghe vui tai. Cô bé ngẩng lên, cô nhận ra đó chính là cô bé ngày hôm qua đã dúi vào tay cô bó hoa cúc trắng.
“Cô Lam dậy rồi à? Má biểu con xay bột để đúc bánh xèo đãi cô. Cô ngồi xuống đây kể chuyện cho con nghe đi!”. Cô nheo mắt hỏi cô bé đang háo hức nhìn mình chờ đợi: “Con muốn nghe cô kể chuyện gì nào?”. “Chuyện cậu Đăng hồi đi học” - cô bé cười toe. Cô bật cười, lòng dâng lên cảm giác ấm áp thân thương. Cô xúc một vá gạo cho vào cối. “Để cô xay thử với!”. Cô bé lui ra nhường chỗ. Cô cắm cúi quay được một lát mồ hôi đã túa ra. Ngoài vườn tiếng Huê nói vọng vào: “Mình ra thư viện đi chị!”.
Đứng trước những kệ sách đầy ắp, cô rưng rưng cầm lên từng cuốn, một tờ giấy viết tay rơi ra. Dòng chữ rắn rỏi quen thuộc của Đăng nhảy nhót trước mắt cô: Thứ Hai: Kể chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng. Thứ Ba: Dạy làm lồng đèn ngôi sao bằng tre. Thứ Tư: Trò chơi dân gian… Huê đến sau lưng cô từ lúc nào, tiếng Huê thì thầm: “Có bận cách gì thì cũng một tuần em lại ra đây dọn dẹp lau chùi. Nhiều lúc em tính bán đi cho đỡ cực nhưng nghĩ đến anh Đăng, lại thôi. Anh ấy từng nói, nếu một ngày nào đó chị quay về, thì nơi này cũng như nhà của chị”.
Ngoài vườn, mùi hoa cúc theo gió đưa hương. Cô ngồi bệt xuống nền xi măng mát lạnh, thẫn thờ nhìn ra khoảng không rợp nắng, nghe như tiếng Đăng cười lẫn vào tiếng lũ trẻ ríu rít đi học về. Từ cuối con đường đất dẫn vào đây, những vạt cúc đã rực lên màu trắng tinh khôi dưới nắng mặt trời.
Huê cùng cô kê dọn lại kệ sách, xếp ngay ngắn từng thể loại cho lũ trẻ tiện tìm đọc. Trong lúc cô loay hoay dán lại một số gáy sách đã sờn, Huê chạy lại đưa cho cô bức thư Đăng viết dở. Những dòng chữ nhảy múa, nhòe nhoẹt trước mắt cô. Nếu một ngày em trở lại nơi này, đừng tiếc những mùa hoa đã lỡ… Anh tin, mình sẽ còn gặp lại nhau...
Chiều hôm đó, nhóm trẻ trong làng kéo đến ngồi tràn ra cả hiên nhà, nghe cô kể chuyện, dạy vẽ tranh, làm hoa giấy. Xấp nhỏ còn nằng nặc kéo tay cô đi xem con mèo Mun mới đẻ ở bụi chuối sau nhà.
Hoàng hôn tắt sớm. Cô lại ra sông. Lác đác vài đốm đèn câu trên chiếc thuyền từ bờ bên kia hắt xuống từng vệt sáng. Cô chưa hết bàng hoàng vì nỗi nhớ Đăng đến lịm người bỗng giật mình vì tiếng bìm bịp thảng thốt từ bờ bên kia vọng lại như có ai đó xua đuổi khiến nó hốt hoảng vụt bay lên, bỏ lại tiếng kêu khắc khoải trôi dài trên con nước trong ánh chiều tà. Gió sông vẫn ràn rạt thổi. Có lẽ, ở một nơi nào đó Đăng cũng đang trở về.
Truyện ngắn VŨ NGỌC GIAO

